1. Dạng bài ngữ âm, trọng âm

Với dạng bài ngữ âm, trọng âm, ngoài việc học thuộc một số quy tắc như phát âm đuôi -ed, -s/es, thì rèn luyện làm nhiều bài tập để biết được cách phát âm, đánh trọng âm của từ là rất quan trọng. 

Ngoài ra, những trường hợp ngoại lệ có cách phát âm, đánh trọng âm đặc biệt cũng là việc bạn cần lưu ý để tránh đánh mất điểm đáng tiếc khi làm bài.

Ví dụ: Tìm từ có phần gạch được phát âm khác:

A. blessed               B. curried            C. crooked           D. kicked

Có đến trên 90% các bạn thí sinh khi làm chọn B, nhưng đáp án của ví dụ này lại là D.

Cách phát âm các từ này được phiên âm như sau: blessed /'blesid/, curried /ˈkɜːrid/, crooked /'krukid/, kicked /kikt/

Như vậy, kicked có phần gạch chân phát âm là /t/, còn lại đều là /id/. Đây là một ngoại lệ điển hình mà các thí sinh cần ghi nhớ.

2. Dạng bài điền từ vào câu

Điền từ vào câu là dạng bài kiểm tra được rộng nhất kiến thức ngữ pháp của thí sinh và được đánh giá là dễ nhất trong cả đề thi. Khi bắt đầu làm đề thi, các bạn thí sinh nên làm phần này đầu tiên vì hoàn thành tốt dạng bài này sẽ tự tin hơn khi giải quyết các phần tiếp theo.

Do độ phủ kiến thức cao nên để làm tốt dạng bài điền từ vào câu, các bạn cần học chắc các chủ điểm ngữ pháp quan trọng trong chương trình sách giáo khoa, đồng thời bổ sung nguồn từ vựng cơ bản.

Ví dụ:  

It’s essential that every student _______ the exam before attending the course.

A. passes               B. would pass              C. passed                  D. pass

Ví dụ trên là câu hỏi kinh điển trong dạng bài điền từ vào câu. Ví dụ sử dụng cấu trúc giả định khá quen thuộc It is essential that S (should) V-inf  và đáp án là D.

Tương tự, các câu hỏi khác trong dạng bài này đa phần đều thuộc một chủ điểm ngữ pháp nhất định.

3. Dạng bài chức năng giao tiếp

Dạng bài chức năng giao tiếp trong đề thi THPT quốc gia khá đa dạng về các chủ đề giao tiếp trong cuộc sống, từ việc cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, xin phép, đề nghị… đến những câu hỏi, câu nói thường ngày. Cần lưu ý chọn câu trả lời phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, phù hợp về ngữ nghĩa, và đảm bảo độ lịch sự, lễ phép, thân thiện, không thái độ tồi, khó chịu, nhưng cũng cần tránh những câu quá câu nệ, học thuật, không hợp với lối nói hàng ngày.

Ví dụ: “Excuse me! I’m looking for the library.” – “________”

A. Where’re your eyes? It’s in front of you.

B. Look no further!

C. Find it yourself. I’m busy.

D. Oh, nice to meet you.

Về nghĩa thì cả A, B, C đều không sai, nhưng câu A trả lời với thái độ gắt gỏng, câu C thể hiện sự khó chịu, không muốn giúp đỡ, thì ta không chọn. Câu D trả lời không đúng câu hỏi nên chỉ còn phương án B là đúng.

4. Dạng bài tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa

Bản chất của dạng bài này những từ in đậm mà đề bài cho thường là từ ít xuất hiện và thí sinh chưa gặp bao giờ, còn các phương án A, B, C, D thường là những từ, cụm từ mà các bạn có khả năng hiểu được nghĩa. 

Tuy nhiên, dạng bài này không kiểm tra vốn từ vựng của các bạn thí sinh có rộng hay không mà là kỹ năng đoán nghĩa từ dựa theo ngữ cảnh. Cách làm là dịch nghĩa của câu và sau đó suy đoán nghĩa của từ. Nhớ lưu ý xem đề bài hỏi đồng nghĩa hay trái nghĩa bằng cách gạch chân hay khoanh tròn từ CLOSEST - OPPOSITE trong đề, vì các phương án đưa ra đều có cả từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa với từ in đậm, và bạn rất dễ bị đánh lừa đấy.

Ví dụ: Chọn từ trái nghĩa với từ được gạch chân:

A mediocre student who gets low grades will have trouble getting into an Ivy League college.

A. average                  B. lazy                C. stupid                  D. hard-working

Chắc hẳn mediocre là từ rất ít người biết, nhưng qua dịch nghĩa, có thể suy ra đây là từ mang nghĩa tiêu cực (Học sinh mà mediocre, bị điểm kém, sẽ gặp rắc rối…). Đề bài hỏi từ trái nghĩa nên chắc chắn đáp án phải là một từ tích cực. Đáp án là D.

Có thể thấy, kỹ năng suy luận và đoán nghĩa từ văn cảnh rất cần thiết trong dạng bài này.

5. Dạng bài đọc hiểu

Để có thể làm tốt được dạng bài đọc hiểu, các bạn cần một vốn từ đa dạng theo chủ điểm và nắm vững kỹ năng đọc lướt, thâu tóm nội dung, cũng như kỹ năng đọc chi tiết, tìm nội dung cụ thể. Ngoài ra, việc dựa theo ngữ cảnh để đoán nghĩa của từ cũng rất quan trọng trong bài đọc hiểu vì nếu bạn không thể biết hết được nghĩa của các từ trong bài đọc đó.

Trên thực tế, các bạn không cần phải hiểu hết nội dung của cả đoạn văn mà chỉ cần nắm vững một số kỹ năng là đã có thể giải quyết được toàn bộ câu hỏi trong đề thi. Vì vậy nếu gặp quá nhiều từ mới không thể hiểu được toàn bộ ý nghĩa bạn cũng không cần quá lo lắng, bình tĩnh xác định thông tin trong bài là bạn vẫn có thể giải quyết được các câu hỏi của phần thi này.

Ví dụ:

"General Howe, however, had different plans. Howe brought his army south from New York and invaded the Patriot capital of Philadelphia. Although he succeeded in capturing the city and forcing Congress to flee to York, Pennsylvania, he decided to camp his army in the capital for the winter, rather than proceeding with the plan and marching to Albany. Furthermore, stubborn Patriot resistance under the infamous General Benedict Arnold kept St. Leger from making it to Albany, and Burgoyne’s progress was slowed by excess baggage and entire groves of trees felled by the Patriots to make his travels even more difficult. Low on supplies, Burgoyne sent a detachment to capture an American supply base at Bennington, Vermont. The detachment was defeated by John Stark and the Green Mountain Boys, causing Burgoyne to withdraw to Saratoga, N.Y".

Nội dung trên viết về trận chiến – một chủ đề mà ngay cả đọc tiếng Việt cũng không dễ hiểu, và trong bài ngoài tên riêng ra thì đa phần là những từ mới khá hiếm gặp. Đọc bài này nhiều bạn thí sinh sẽ run vì không hiểu nội dung bài nói gì, nhưng thực tế thì câu hỏi không khó.

- Which of the following WAS NOT a reason that General Burgoyne’s Army was ultimately defeated?

A.    His progress was slowed by excess baggage

B.    The other two armies failed to join forces with him

C.   His detachment was unsuccessful in Vermont

D.   His army failed to ever reach Albany

Dễ tìm ra được các thông tin A, B, C ở trong đoạn văn và chọn được đáp án là D. Ở đây, bạn chỉ cần định vị được nội dung là làm được mà không cần hiểu hoàn toàn nội dung.

- What does “he” refer to?

A.    Howe

B.    New York

C.   Patriot

D.   Benedict Arnold

Những câu về “refer to” cũng rất dễ để tìm đáp án, chỉ cần xoay quanh từ in đậm là xác định được đại từ đó thay thế cho danh từ nào, ở đây dễ dàng chọn được A. He thay thế cho Howe.

Với những câu hỏi về chủ đề, nội dung chính, hay nhan đề bài viết, một lời khuyên quan trọng là không nên chọn các phương án có nội dung quá chung chung hay chi tiết.

6. Dạng bài tìm lỗi sai

Tìm lỗi sai thường tập trung vào kiến thức ngữ pháp dễ gây nhầm lẫn, khó nhớ, hoặc bất quy tắc. Các bạn có thể ôn tập cho dạng bài này bằng cách nhặt ra những chủ điểm ngữ pháp dễ sai như cấu trúc song song, hòa hợp chủ vị, thì của động từ, liên từ, những cặp từ tương tự…

Ví dụ:

All the candidates for the scholarship will be equally treated regarding of their age, sex, or nationality.

Ngữ pháp được kiểm tra ở đây là cụm regardless of (bất chấp). Từ sai là regarding.

7. Dạng bài điền từ vào đoạn văn

Đây là dạng bài gây nhiều khó khăn vì yêu cầu thí sinh vừa phải nắm vững ngữ pháp, vừa phải có vốn từ phong phú và kỹ năng đọc hiểu nhất định để làm đúng. Ngoài ra, bạn còn phải quan sát trước và sau vị trí cần điền để chọn đáp án đúng.

Ví dụ:

THE LONDON TO BRIGHTON CAR RUN

The first London to Brighton run took place on November 14th, 1896. It was organized to celebrate the (1) ...... of a law which made it easier for cars in Britain to be driven on the roads. Before then, the law (2) ...... a driver and an engineer in the car and a man walking in front of the vehicle with a red flag warning of its approach. […]

1.  A. electing           B. passing              C. settling             D. appointing

Đáp án là B.

Để làm được câu này, ngoài việc biết nghĩa của các từ, cần biết cụm từ đi kèm với nhau, với law (luật) cần dùng động từ pass (ban hành).

8. Dạng bài viết lại câu

Để làm được bài này, bạn cần nắm vững cách sử dụng liên từ, cách dùng mệnh đề quan hệ, mệnh đề danh ngữ, mệnh đề rút gọn… (đối với dạng nối câu) và đảm bảo nghĩa của câu mới giống hoàn toàn so với câu gốc, đồng thời đúng ngữ pháp (đối với dạng câu đồng nghĩa).

Ví dụ: Viết lại câu sao cho nghĩa không đổi:

The old man is working in this factory. I borrowed his bicycle yesterday.

A. The old man is working in this factory which I borrowed his bicycle yesterday.

B. The old man whom I borrowed his bicycle yesterday is working in this factory.

C. The old man whose bicycle I borrowed yesterday is working in this factory.

D. The old man who is working in this factory I borrowed his bicycle yesterday.

Nắm vững được kiến thức về mệnh đề quan hệ, bạn sẽ chọn được đáp án C, vừa đảm bảo ngữ pháp, vừa đảm bảo nghĩa không đổi.

Trên đây là 8 dạng bài xuất hiện trong đề thi THPT QG môn Tiếng Anh mà Thi Quốc Gia muốn giới thiệu với các bạn. Hi vọng với những ví dụ và lưu ý của chúng tôi qua bài viết này, bạn sẽ dễ dàng nắm vững được các phương pháp ôn luyện và trọng tâm những kiến thức cần học.

Chúc các bạn sĩ tử 2k1 ôn thi hiệu quả!