Dành cho giáo viênTài liệu

Gợi ý học tập môn Ngữ Văn mô đun 3 THCS

Đáp án tự luận mô đun 3 môn Ngữ Văn THCS
49

Đáp án tự luận mô đun 3 môn Ngữ Văn THCS

Gợi ý học tập môn Ngữ Văn mô đun 3 THCS sẽ giúp giáo viên nắm được các phương pháp học tập và hoàn thành bài tập trong tập huấn mô đun 3. Mời các thầy cô tham khảo.

Gợi ý học tập môn Ngữ Văn mô đun 3 THCS được thầy cô gửi đến chia sẻ miễn phí cùng đồng nghiệp những nội dung chung nhất. Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, các bạn chỉ nên đọc để lấy ý tưởng làm bài, phù hợp với kiến thức, môi trường dạy và học cá nhân.

Đáp án tham khảo Mô đun 3 môn Ngữ Văn

Một số vấn đề về KTĐG trong giáo dục:

Câu 1: Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra.

a) Đo lường

Đo lường là một khái niệm chuyên dùng để chỉ sự so sánh một vật hay hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng hoặc định tính. Nói cách khác, đo lường liên quan đến việc sử dụng các con số vào quá trình lượng hoá các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính (định lượng/ đo lường về số lượng).

Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, đo lường thường sử dụng hai loại tham chiếu: tham chiếu theo tiêu chuẩn và tham chiếu theo tiêu chí.

Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả đạt được của người này đối với những người khác. Ứng với loại tham chiếu này là các đề thi chuẩn hoá. Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với mục tiêu, yêu cầu của bài học. Ứng với loại tham chiếu này là các đề thi theo tiêu chí.

b) Đánh giá

Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, và diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS; kế hoạch dạy học; chính sách giáo dục), qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng.

Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của HS nhằm xác định những gì HS biết, hiểu và làm được. Từ đó đưa ra quyết định phù hợp tiếp theo trong quá trình giáo dục HS.

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và được diễn giải bằng điểm số/chữ hoặc nhận xét của GV, từ đó biết được mức độ đạt được của HS trong biểu điểm đang được sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét của GV.

c) Kiểm tra

Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa và mục tiêu như đánh giá (hoặc định giá). Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá, ví dụ như câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra. Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định, chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubric trình bày các tiêu chí đánh giá.

Như vậy, trong giáo dục:

– Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học;

– KTĐG là công cụ hành nghề quan trọng của GV;

– KTĐG là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy và học.

Câu 2: Nối: 1-3,2-1,3-2

Quan điểm hiện đại về KTĐG

Câu 1: Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:

Quan điểm hiện đại về KTĐG theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS chú trọng đến đánh giá quá trình để phát hiện kịp thời sự tiến bộ của HS và vì sự tiến bộ của HS, từ đó điều chỉnh và tự điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học. Quan điểm này thể hiện rõ coi mỗi hoạt động đánh giá như là học tập (Assessment as learning) và đánh giá là vì học tập của HS (Assessment for learning). Ngoài ra, đánh giá kết quả học tập (Assessment of learning) cũng sẽ được thực hiện tại một thời điểm cuối quá trình giáo dục để xác nhận những gì HS đạt được so với chuẩn đầu ra.

Câu 2: Đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối một giai đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so với yêu cầu cần đạt của bài học/ môn học/ cấp học là nội dung của quan điểm đánh giá nào?

ĐA 1: Đánh giá kết quả học tập

Đánh giá năng lực HS

Câu hỏi: Những biểu hiện của năng lực văn học

– Năng lực văn học: học sinh nhận biết và phân biệt được các loại văn bản văn học: truyện, thơ, kịch, kí và một số thể loại tiêu biểu cho mỗi loại; phân tích được tác dụng của một số yếu tố hình thức nghệ thuật thuộc mỗi thể loại văn học; hiểu nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản văn học; trình bày được cảm nhận, suy nghĩ về tác phẩm văn học và tác động của tác phẩm đối với bản thân; bước đầu tạo ra được một số sản phẩm có tính văn học.

Nguyên tắc đánh giá:

Câu hỏi: KTĐG theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS THCS cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

– Đảm bảo tính toàn diện và linh hoạt: Việc đánh giá năng lực hiệu quả nhất khi phản ánh được sự hiểu biết đa chiều, tích hợp, về bản chất của các hành vi được bộc lộ theo thời gian. Năng lực là một tổ hợp, đòi hỏi không chỉ sự hiểu biết mà là những gì có thể làm với những gì họ biết; nó bao gồm không chỉ có kiến thức, khả năng mà còn là giá trị, thái độ và thói quen hành vi ảnh hưởng đến mọi hoạt động. Do vậy, đánh giá cần phản ánh những hiểu biết bằng cách sử dụng đa dạng các phương pháp nhằm mục đích mô tả một bức tranh hoàn chỉnh hơn và chính xác năng lực của người được đánh giá.

– Đảm bảo tính phát triển HS: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình KTĐG, có thể phát hiện sự tiến bộ của HS, chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất và năng lực; phát huy khả năng tự cải thiện của HS trong hoạt động dạy học và giáo dục.

– Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh HS có phẩm chất và năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được giải quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnh mang tính thực tiễn. Vì vậy, KTĐG theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS chú trọng việc xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để HS được trải nghiệm và thể hiện mình.

– Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học có những yêu cầu riêng về năng lực đặc thù cần hình thành cho HS, vì vậy, việc KTĐG cũng phải đảm bảo tính đặc thù của môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học.

Quy trình KTĐG theo hướng phát triển năng lực HS

Trả lời

Quy trình 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín bởi kết quả thu được cuối cùng ở bước 7 sẽ sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy học, giáo dục nhằm phát triển phẩm chất, năng lực HS, thúc đẩy HS tiến bộ, đáp ứng mục tiêu đề ra từ bước 1 khi xác định mục đích đánh giá, phân tích mục tiêu học tập sẽ đánh giá nhằm phát triển phẩm chất năng lực của HS.

Câu hỏi TNKQ

Câu 1: ĐA 3 – Phân tích mục tiêu…

Câu 2: Nối 1-3,2-7,3-4,4-2,5-1,6-6,7-5

HÌNH THỨC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA…

Hình thức KT đánh giá thường xuyên

Trả lời

1. Khái niệm đánh giá thường xuyên

Đánh giá thường xuyên hay còn gọi là đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy, học tập. Đánh giá thường xuyên chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện trong quá trình dạy học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động kiểm tra đánh giá trước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (đánh giá đầu năm/đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học này (đánh giá tổng kết). Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của HS.

2. Mục đích đánh giá thường xuyên

Mục đích của đánh giá thường xuyên nhằm thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho HS và GV biết những gì họ đã làm được so với mục tiêu, yêu cầu của bài học, của chương trình và những gì họ chưa làm được để điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá thường xuyên đưa ra những khuyến nghị để HS có thể làm tốt hơn những gì mình chưa làm được, từ đó nâng cao kết quả học tập trong thời điểm tiếp theo.

Đánh giá thường xuyên còn giúp chẩn đoán hoặc đo kiến thức và kĩ năng hiện tại của HS nhằm dự báo hoặc tiên đoán những bài học hoặc chương trình học tiếp theo cần được xây dựng thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS. Có sự khác nhau về mục đích đánh giá của đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. Đánh giá thường xuyên có mục đích chính là cung cấp kịp thời thông tin phản hồi cho GV và HS để điều chỉnh hoạt động dạy và học, không nhằm xếp loại thành tích hay kết quả học tập. Đánh giá thường xuyên không nhằm mục đích đưa ra kết luận về kết quả giáo dục cuối cùng của từng HS. Ngoài việc kịp thời động viên, khuyến khích khi HS thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, đánh giá thường xuyên còn tập trung vào việc phát hiện, tìm ra những thiếu sót, lỗi, những nhân tố ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của HS để có những giải pháp hỗ trợ điều chỉnh kịp thời, giúp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục. Trong khi mục đích chính của đánh giá định kì là xác định mức độ đạt thành tích của HS, mà ít quan tâm đến việc thành tích đó HS đã đạt được ra sao/bằng cách nào và kết quả đánh giá này được sử dụng để xếp loại, công nhận HS đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập.

3. Nội dung đánh giá thường xuyên

Đánh giá thường xuyên tập trung vào các nội dung sau:

Sự tích cực, chủ động của HS trong quá trình tham gia các hoạt động học tập, rèn luyện được giao: GV không chỉ giao nhiệm vụ, xem xét HS có hoàn thành hay không, mà phải xem xét từng HS hoàn thành thế nào (có chủ động, tích cực, có khó khăn gì… có hiểu rõ mục tiêu học tập và sẵn sàng thực hiện ….). GV thường xuyên theo dõi và thông báo về sự tiến bộ của HS hướng đến việc đạt được các mục tiêu học tập/giáo dục;

Sự hứng thú, tự tin, cam kết, trách nhiệm của HS khi thực hiện các hoạt động học tập cá nhân: HS tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập cá nhân có thể hiện tính trách nhiệm, có hứng thú, có thể hiện sự tự tin …. Đây là những chỉ báo quan trọng để xác định xem HS cần hỗ trợ gì trong học tập, rèn luyện;

Thực hiện các nhiệm vụ hợp tác nhóm: Thông qua các nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo nhóm (kể cả hoạt đông tập thể), GV quan sát… để đánh giá HS.

4. Thời điểm đánh giá thường xuyên

Thực hiện linh hoạt trong quá trình dạy học và giáo dục, không bị giới hạn bởi số lần đánh giá. Mục đích chính là khuyến khích HS nỗ lực học tập, vì sự tiến bộ của HS.

5. Người thực hiện đánh giá thường xuyên

Thành phần tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng, bao gồm: GV đánh giá, HS tự đánh giá, HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá và đoàn thể, cộng đồng đánh giá.

6. Phương pháp, công cụ đánh giá thường xuyên

Phương pháp kiểm tra: đánh giá thường xuyên có thể là kiểm tra viết, quan sát, thực hành, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập…

Công cụ có thể dùng là phiếu quan sát, các thang đo, bảng kiểm, thẻ kiểm tra/phiếu kiểm tra, các phiếu đánh giá tiêu chí, phiếu hỏi, hồ sơ học tập, các loại câu hỏi vấn đáp… được GV tự biên soạn hoặc tham khảo từ các tài liệu hướng dẫn. GV có thể thiết kê các công cụ từ các tài liệu tham khảo cho phù hợp vời từng tình huống, bối cảnh đánh giá dạy học, đánh giá giáo dục (mang tính chủ quan của từng GV). Công cụ sử dụng trong đánh giá thường xuyên có thể được điều chỉnh để đáp ứng mục tiêu thu thập những thông tin hữu ích điển hình ở từng HS, do vậy không nhất thiết dẫn tới việc cho điểm.

Vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn

Trong dạy học Ngữ văn đánh giá thường xuyên vừa có những điểm chung giống như đánh giá trong dạy học các môn khác vừa có những nét khác biệt do đặc thù của môn học. Đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình dạy học và tích hợp với quá trình này. Chủ thể đánh giá là GV Ngữ văn, HS tự đánh giá, HS đánh giá lẫn nhau và đánh giá của phụ huynh. Ngoài ra, trong dạy học tích hợp liên môn, có thể có sự tham gia của GV bộ môn khác. Phương pháp đánh giá thường xuyên bao gồm:

– Phương pháp kiểm tra viết: Đây có thể coi là phương pháp rất quan trọng trong đánh giá thường xuyên trong dạy học Ngữ văn. Công cụ là bài kiểm tra (trong đó sử dụng cả hai dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận), bài luận, bảng hỏi ngắn, thẻ kiểm tra, bảng KWL. Các loại câu hỏi này thường được thiết kế trong sách giáo khoa, các phiếu hỏi hoặc các phiếu học tập…

– Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình là quan sát quá trình HS học tập như chuẩn bị bài, tham gia vào bài học (ghi chép, phát biểu ý kiến, thuyết trình, tương tác với thầy cô, với các bạn…trong giờ học Ngữ văn). Việc quan sát bao gồm cả quan sát hành động cũng như thái độ, cảm xúc của HS. Quan sát sản phẩm là quan sát các sản phẩm HS tạo ra trong giờ học Ngữ văn như: video, phim, ghi chép đọc mở rộng của HS, phiếu bài tập, bài luận, bài nghiên cứu, sản phẩm đóng vai, sân khấu hoá,… Công cụ quan sát GV có thể sử dụng trong dạy học Ngữ văn là phiếu ghi chép sự kiện thường nhật, thang đo, bảng kiểm. Ví dụ: Khi dạy học tạo lập văn bản, sản phẩm là một đoạn văn hoặc bài văn, GV có thể sử dụng bảng kiểm để HS tự kiểm tra các lỗi trong sản phẩm của mình.

– Phương pháp hỏi – đáp: Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên khi dạy học Ngữ văn, đặc biệt trong các giờ dạy học trên lớp. Hỏi – đáp có thể dùng trong tất cả các hoạt động như khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng, mở rộng. Công cụ của phương pháp này là câu hỏi. Ví dụ: Khi đọc hiểu văn bản “Bài học đường đời đầu tiên”, sau khi cho HS đọc toàn bộ văn bản, GV đặt câu hỏi: Câu chuyện đã mang lại cho em cảm xúc gì (vui, buồn, tiếc nuối…)?

– Phương pháp đánh giá sản phẩm học tập: Trong dạy học Ngữ văn, phương pháp này rất cần thiết để đánh giá. Công cụ được sử dụng để đánh giá theo phương pháp này bảng kiểm, thang đánh giá, rubrics.

Hình thức đánh giá định kì

Câu trả lời: Đánh giá định kì

1. Khái niệm đánh giá định kì

Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS so với yêu cầu cần đạt so với qui định trong chương trình giáo dục phổ thông và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất HS.

2. Mục đích đánh giá định kì

Mục đích chính của đánh giá định kì là thu thập thông tin từ HS để đánh giá thành quả học tập và giáo dục sau một giai đoạn học tập nhất định. Dựa vào kết quả này để xác định thành tích của HS, xếp loại HS và đưa ra kết luận giáo dục cuối cùng.

3. Nội dung đánh giá định kì

Đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì)/ cuối kì.

4. Thời điểm đánh giá định kì

Đánh giá định kì thường được tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạn học tập (giữa kì, cuối kì).

5. Người thực hiện đánh giá định kì

Người thực hiện đánh giá định kì có thể là: GV đánh giá, nhà trường đánh giá và tổ chức kiểm định các cấp đánh giá.

6. Phương pháp, công cụ đánh giá định kì

Phương pháp đánh giá định kì có thể là kiểm tra viết trên giấy hoặc trên máy tính; thực hành; vấn đáp…

Công cụ đánh giá định kì có thể là các câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm nghiên cứu…

7. Các yêu cầu, nguyên tắc của đánh giá định kì

– Đa dạng hoá trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá;

– Chú trọng sử dụng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụ thể về thái độ, hành vi, kết quả sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ đề học tập và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS.

– Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong KTĐG trên máy tính để nâng cao năng lực tự học cho HS.

Vận dụng hình thức đánh giá định kì trong dạy học môn Ngữ văn

Đánh giá định kì trong môn Ngữ văn được thực hiện ở thời điểm gần cuối hoặc cuối một giai đoạn học tập (cuối kì, cuối cấp) do cơ sở giáo dục các cấp tổ chức thực hiện để phục vụ công tác quản lí hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình, tài liệu học tập. Đánh giá định kì thường thông qua các đề kiểm tra hoặc đề thi viết. Đề thi, kiểm tra có thể yêu cầu hình thức viết tự luận (một hoặc nhiều câu); có thể kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm khách quan) và hình thức tự luận (câu hỏi mở) để đánh giá đọc hiểu và yêu cầu viết bài văn về một chủ đề nào đó theo từng kiểu văn bản đã học trong chương trình. Có thể sử dụng hình thức kiểm tra vấn đáp (để đánh giá nói và nghe) nếu thấy cần thiết và có điều kiện. Trong việc đánh giá kết quả học tập cuối năm, cuối cấp, cần đổi mới cách thức đánh giá (cấu trúc đề, cách nêu câu hỏi, phân giải độ khó…); sử dụng và khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của HS, khắc phục tình trạng học thuộc, sao chép tài liệu có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học.

Câu hỏi TNKQ:

Câu 1: Nối: 1-4,2-3,3-1,4-2

Câu 2: ĐA 2: Đánh giá định kì cũng là đánh giá tổng kết

Phương pháp KTĐG

Phương pháp viết

Câu 1: ĐA 4

Câu 2: ĐA 4

CÂu 3: Câu hỏi tự luận có hai dạng:

Thứ nhất là câu có sự trả lời mở rộng, là loại câu có phạm vi rộng và khái quát. HS tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức.

Thứ hai là câu tự luận trả lời có giới hạn, các câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu rõ để người trả lời biết được phạm vi và độ dài ước chừng của câu trả lời. Bài kiểm tra với loại câu này thường có nhiều câu hỏi hơn so với bài kiểm tra tự luận có câu hỏi mở rộng. Nó đề cập tới những vấn đề cụ thể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơn đối với người trả lời; do đó việc chấm điểm dễ hơn và có độ tin cậy cao hơn.

Phương pháp quan sát

Câu 1: ĐA2 – bài tập

Câu 2: Ví dụ: GV sử dụng phương pháp quan sát sản phẩm trong dạy học Ngữ văn 6:

– HS vẽ tranh mô phỏng các nhân vật và sự kiện quan trọng trong truyện cổ tích và trình bày sản phẩm của mình trước lớp. HS có thể thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm.

– GV đánh giá kết quả hoặc xem xét quá trình HS hợp tác, phân chia công việc, thực hiện vẽ tranh. GV sẽ quan sát và cho ý kiến đánh giá về việc lựa chọn nhân vật, chi tiết, bối cảnh, màu sắc… phù hợp, giúp các em hoàn thiện bức tranh.

Phương pháp hỏi – đáp

Câu 1: ĐA 3 – Hỏi đáp đúng sai

Câu 2: ĐA 3 – Hỏi đáp tổng kết

Câu 3: ĐA 2 – Hỏi đáp tổng kết

Câu 4:

Ví dụ:

– Hỏi – đáp gợi mở:

Khi dạy về Truyện cười trong chương trình Ngữ văn 6, GV đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt HS từ việc HS đã học những thể loại truyện dân gian nào trước đó, sau đó giới thiệu một thể loại mới.

HS trả lời: Truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn

– Hỏi – đáp tổng kết:

Sau khi học xong 2 tiết “Thêm trạng ngữ cho câu” trong chương trình Ngữ Văn 7, GV có thể đặt câu hỏi yêu cầu và hướng dẫn HS tổng kết khái quát lại toàn bộ nội dung kiến thức liên quan đến trạng ngữ.

HS cần khái quát: Nội dung ý nghĩa, hình thức, công dụng của trạng ngữ và Mục đích của việc tách trạng ngữ thành câu riêng

Phương pháp đánh giá hồ sơ học tập

Câu 1: Hồ sơ thành tích

Câu 2: đánh dấu 4 đáp án trừ ảnh HS

Câu 3:

Trong dạy học Ngữ văn, tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ sơ học tập bằng cách yêu cầu HS xây dựng hồ sơ học tập:

– HS xây dựng mục tiêu học tập bộ môn từ đầu năm học

– HS tự đánh giá mình đã đạt được mục tiêu ở các mốc: giữa HK I, cuối HK I, giữa HK II, cuối năm

– HS lưu minh chứng: bảng điểm bộ môn, các BT nhóm, sản phẩm cá nhân liên quan đến bài học, phiếu đánh giá của GV, phiếu đánh giá của các HS khác về mình

GV dựa trên hồ sơ đó để đánh giá việc thực hiện được mục tiêu và sự tiến bộ của HS.

Phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập

Câu tự luận: Trong dạy học Ngữ văn có các dạng sản phẩm học tập của HS:

– Bức tranh, bài thơ, sơ đồ tư duy, phiếu học tập

– Bài nêu cảm nhận, phát biểu cảm nghĩ về bài học hoặc về các chi tiết, sự kiện, nhân vật, hình ảnh… liên quan đến bài học

Câu hỏi tương tác:

Câu 1: Bài thuyết trình của GV

Câu 2: Theo tôi, hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lực chung và phẩm chất của học sinh.

XÂY DỰNG CÔNG CỤ KIỂM TRA

Đánh giá kết quả giáo dục…

Câu 1: Trình bày…

Tập trung vào yêu cầu HS hiểu nội dung, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý định của người viết; xác định các đặc điểm thuộc về phương thức thể hiện, nhất là về kiểu loại văn bản và ngôn ngữ sử dụng; trả lời các câu hỏi theo những cấp độ tư duy khác nhau; bước đầu giải thích cho cách hiểu của mình; nhận xét, đánh giá về giá trị và sự tác động của văn bản đối với bản thân; thể hiện cảm xúc đối với những vấn đề được đặt ra trong văn bản; liên hệ, so sánh giữa các văn bản và giữa văn bản với đời sống.

Câu 2: Chọn ĐA nội dung đánh giá

Câu 3: Chọn ĐA hoạt động viết

Xây dựng công cụ kiểm tra…

Video giới thiệu

Đề kiểm tra

Câu 1: Chọn ĐA 4 – Đề KSCL đầu khóa học

Câu 2: Thầy / cô hãy chia sẻ kinh nghiệm của mình về việc xây dựng đề kiểm tra trong dạy học môn Ngữ văn.

– Đảm bảo mục tiêu kiểm tra, đánh giá

– Bám sát chương trình, vừa sức HS

– Xây dựng ma trận và câu hỏi hợp lý tương ứng với các mức độ cần đạt

Câu hỏi

Câu 1: Các loại câu hỏi theo thang đánh giá của Bloom:

Câu hỏi “biết”

Câu hỏi “hiểu”

Câu hỏi “áp dụng”

Câu hỏi “phân tích”

Câu hỏi “tổng hợp”

Câu hỏi “đánh giá”

Câu hỏi 2:

Ví dụ khi dạy học VB “Cuộc chia tay của những con búp bê”, các câu hỏi đánh giá theo thang Bloom được GV sử dụng như sau:

Câu hỏi “biết”: Tác phẩm này do ai sáng tác? Em đã biết gì về nhà văn ấy?

Câu hỏi “hiểu”: Nhân vật trong câu chuyện trên là những ai? Ai là người kể lại câu chuyện? Điều đó có tác dụng gì?

Câu hỏi “áp dụng”: Khi đọc hiểu một văn bản truyện, ta cần chú ý điều gì?

Câu hỏi “phân tích”: Hãy tìm những từ ngữ miêu tả trực tiếp tâm trạng của Thành và Thủy khi phải chia búp bê.Nếu em là Thủy, em hình dung thế nào về tâm trạng của Thủy trong tình huống này?

Câu hỏi “tổng hợp”: Theo em thông điệp mà văn bản truyện này gửi gắm là gì?

Câu hỏi “đánh giá”: Em thích nhất và không thích nhất điều gì trong câu chuyện này?

Câu 3: ĐA viết ý kiến

Bài tập

Câu 1: ĐA Nhằm đánh giá năng lực vận dụng KT của HS vào thực tiễn

Câu 2: Ví dụ về bài tập tình huống trong dạy học môn Ngữ văn: Văn bản “Mẹ tôi” của E.A-mi-xi (Ngữ Văn 7):

Em vô ý mắc lỗi thiếu lễ độ với bố mẹ/thầy cô giáo và rất hối hận về việc đó. Em cần làm gì trong huống này?

– Mô tả tình huống: Em vô ý mắc lỗi thiếu lễ độ với bố mẹ/thầy cô giáo và rất hối hận về việc đó.

– Câu hỏi: Em cần làm gì trong tình huống này?

HS vận dụng kiến thức đã học và liên hệ thực tế để trả lời.

Sản phẩm học tập

Câu 1: ĐA1 và 3: Kết quả của HĐHT, Bằng chứng…

Câu 2: Hãy trình bày mục đích sử dụng sản phẩm học tập trong kiểm tra đánh giá.

Sử dụng các sản phẩm học tập để giúp GV đánh giá sự tiến bộ của HS, đánh giá năng lực vận dụng, năng lực hành động thực tiễn, kích thích động cơ, hứng thú học tập cho HS, phát huy tính tích tự lực, ý thức trách nhiệm, sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề phức hợp, phát triển năng lực cộng tác làm việc, rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn, phát triển năng lực đánh giá cho HS

Câu 3: Hãy nêu ví dụ về một số sản phẩm trong dạy học đọc hiểu ở môn Ngữ văn.

– Video đọc bài, bài thuyết trình, phát biểu cảm nghĩ của HS về văn bản

– Phiếu học tập

– Sơ đồ tư duy

– Sản phẩm sân khấu hóa (ngâm thơ, hát, diễn kịch…)

Hồ sơ học tập

Câu 1: Chọn các ĐA trừ hồ sơ HS

Câu 2: Chọn ĐA Đúng

Câu 3: Hồ sơ học tập nên được HS tự bảo quản, khi cần sẽ sử dụng và kiểm tra.

Bảng kiểm

Câu 1: ĐA đúng

Câu 2: Cách thiết kế bảng kiêm:

– Phân tích yêu cầu cần đạt của bài học , chủ đề và xác định các kiến thức, kĩ năng học sinh cần đạt được

– Phân chia những quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩm của học sinh thành những yếu tố cấu thành và xác định những hành vi , đặc điểm mong đợi căn cứ vào yêu cầu cần đạt ở trên

– Trình bày các hành vi, đặc điểm mong đợi dó theo một trình tự để theo dõi và kiểm tra

Câu 3: Trong dạy học Ngữ văn, bảng kiểm có thể đánh giá:

– Kĩ năng diễn đạt bằng lời nói

– Kĩ năng viết

Thang đánh giá

Câu 1: ĐA 1 – Thang đo dạng số, dạng đồ thị và dạng đồ thị có mô tả

Câu 2: Sắp xếp: 1- 3 => 2-1 => 3-2 => 4-4

Câu 3: Sự khác biệt giữa thang đánh giá và bảng kiểm

-Bảng kiểm là một danh sách ghi lại các tiêu chí ( về hành vi, các đặc điểm, mong đợi) có được thực hiện

hay không.

-Thang đánh giá là công cụ đo lường mức độ mà học sinh đạt được ở mỗi đặc điểm, hành vi về khía cạnh /lĩnh vực cụ thể nào đó

Phiếu đánh giá theo tiêu chí

Câu 1: Các tiêu chí đánh giá cần đảm bảo những yêu cầu

– Thể hiện đúng trọng tâm những khía cạnh quan trọng của hoạt động/ sản phẩm cần đánh giá

– Mỗi tiêu chí phải đảm bảotính riêng biệt, đặc trưng cho một dấu hiệu nào đó của hoạt động/ sản phẩm đánh giá.

– Tiêu chí đưa ra phải quan sát và đánh giá được

Câu 2: Năng lực đánh giá và tự đánh giá của HS

Xây dựng KH đánh giá trong dạy học bài học/chủ đề…

Phân tích yêu cầu…

Câu 1: ĐA Đúng

Câu 2: Chủ đề dạy học Ngữ Văn 7 dựa trên yêu cầu cần đạt của chương trình Ngữ văn (2018): Thơ Hồ Chí Minh

Xây dựng công cụ…

Câu hỏi tương tác

Để xây dựng được kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong dạy học một chủ đề môn Ngữ văn theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS, cần dựa vào:

Mục tiêu

Chương trình

Các hình thức kiểm tra, đánh giá.

Phương pháp kiểm tra đánh giá.

ĐỊNH HƯỚNG ĐÁNH GIÁ MỤC TIÊU GIÁO DỤC

Câu 1: Phẩm chất “chăm chỉ” được biểu hiện thông qua hành vi trong môn Ngữ văn như thế nào?

ĐA thứ 3: Thường xuyên…

Câu 2: Dòng nào KHÔNG phải biểu hiện của năng lực văn học:

ĐA thứ 4: Biết sử dụng các phương tiện…

Câu 3: Dòng nào sau đây KHÔNG biểu hiện năng lực ngôn ngữ trong dạy học Ngữ văn?

ĐA thứ 1: Phân tích kiến tạo nghĩa…

Câu 4: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được thể hiện thế nào trong hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản?

Năng lực giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn được thể hiện ở khả năng đánh giá nội dung của văn bản, biết làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng, độ tin cậy của những thông tin và ý tưởng mới; biết quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng; biết đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau.

Môn Ngữ văn đề cao vai trò của HS với tư cách là người đọc tích cực, chủ động, không chỉ trong hoạt động tiếp nhận mà còn trong việc tạo nghĩa cho văn bản. Khi viết, HS cần phải bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng và triển khai ý tưởng một cách sáng tạo. Qua việc học môn Ngữ văn, nhất là đọc và viết về văn học, HS có được khả năng đề xuất ý tưởng, tạo ra sản phẩm mới; suy nghĩ không theo lối mòn, biết cách giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, phù hợp với tình huống, bối cảnh.

Câu 5: Năng lực giao tiếp và hợp tác được hình thành và phát triển cho học sinh qua dạy học môn Ngữ văn như thế nào?

Môn Ngữ văn là môn học đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành, phát triển năng lực giao tiếp cho HS. Qua môn Ngữ văn, HS biết xác định mục đích giao tiếp, lựa chọn nội dung, kiểu văn bản và thể loại, ngôn ngữ và các phương tiện giao tiếp khác phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp để thảo luận, lập luận, phản hồi, đánh giá về các vấn đề trong học tập và đời sống; biết tiếp nhận các kiểu văn bản và thể loại đa dạng; chủ động, tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ trong giao tiếp. Cũng qua môn Ngữ văn, HS phát triển khả năng nhận biết, thấu hiểu và đồng cảm với suy nghĩ, tình cảm, thái độ của người khác; biết sống hoà hợp và hoá giải các mâu thuẫn; thiết lập và phát triển mối quan hệ với người khác; phát triển khả năng làm việc nhóm, làm tăng hiệu quả hợp tác.

PHÂN TÍCH SỬ DỤNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

Câu 1: Nối

Mức 5: 1-1

Mức 4: 2-5

Mức 3: 3-3

Mức 2: 4-4

Mức 1: 5-2

Câu 2: Thầy/ cô hãy chia sẻ hiểu biết của mình về đường phát triển năng lực học sinh.

Khái quát về đường phát triển năng lực

Đường phát triển năng lực là sự mô tả các mức độ phát triển khác nhau của mỗi năng lực mà HS cần hoặc đã đạt được Đường phát triển năng lực không có sẵn, mà GV cần phải phác họa khi thực hiện đánh giá năng lực HS. Đường phát triển năng lực được xem xét dưới hai góc độ:

– Đường phát triển năng lực là tham chiếu để đánh giá sự phát triển năng lực cá nhân HS. Trong trường hợp này, GV sử dụng đường phát triển năng lực như một qui chuẩn để đánh giá sự phát triển năng lực HS. Với đường phát triển năng lực này, GV cần căn cứ vào các thành tố của mỗi năng lực (chung hoặc đặc thù) trong chương trình GDPT 2018 để phác họa nó với sự mô tả là mũi tên hai chiều với hàm ý, tùy vào đối tượng nhận thức mà sự phát triển năng lực có thể bổ sung ở cả hai phía.- Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực của mỗi cá nhân HS. Căn cứ vào đường phát triển năng lực (là tham chiếu), GV xác định đường phát triển năng lực cho mỗi cá nhân HS để từ đó khẳng định vị trí của HS đang ở đâu trong đường phát triển năng lực đó.

Phân tích, sử dụng kết quả đánh giá theo đường phát triển năng lực để ghi nhận sự tiến bộ của học sinh

Trong đánh giá phát triển năng lực HS, GV phải ghi nhận sự tiến bộ của HS thông qua việc thu thập, mô tả, phân tích, giải thích các hành vi đạt được của học sinh theo các mức độ từ thấp đến cao và đối chiếu nó với các mức độ thuộc các thành tố của mỗi năng lực cần đo (yêu cầu cần đạt của mỗi năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông 2018). Dưới đây là sự cụ thể hóa các công việc đó của người GV khi đánh giá phát triển năng lực HS.

* Thu thập bằng chứng về sự tiến bộ của HS

Có nhiều dạng bằng chứng chứng minh cho sự phát triển năng lực của người học như điểm số bài kiểm tra, thành tích học tập, thái độ học tập, động lực, sở thích, chiến lược học tập, mức độ thực hiện hành vi…của người học. Tuy nhiên, với một số dạng bằng chứng như kết quả kiểm tra tự luận, hồ sơ học tập, thảo luận nhóm, quan sát hành vi…, GV phải vận dụng kinh nghiệm chuyên môn để nhận đinh kết quả đó của học sinh (đánh giá bằng nhận xét).

* Phân tích, giải thích bằng chứng

Để giải thích cho sự tiến bộ của học sinh, giáo viên có thể tiến hành như sau:

– Thu thập bằng chứng thông qua sản phẩm học tập và quan sát các hành vi của học sinh (những gì học sinh nói, viết, làm và tạo ra), trên cơ sở sử dụng Rubric đã thiết kế làm tham chiếu (đánh dấu những gì quan sát được- minh họa như bảng 3);

– Sử dụng bằng chứng để đánh giá kiến thức, kĩ năng học sinh đã có (những gì học sinh đã biết được, đã làm được) trong thời điểm hiện tại để sẵn sàng cho việc học tập tiếp theo trên cơ sở cấu trúc của năng lực và Rubric tham chiếu.

– Sử dụng bằng chứng để suy đoán những kiến thức, kĩ năng học sinh chưa đạt được và cần đạt được (những gì học sinh có thể học được) nếu được giáo viên hỗ trợ, can thiệp phù hợp với những gì học sinh đã biết và đã làm được. Ở bước này, giáo viên có thể cho học sinh làm các bài test phù hợp để xác định những gì học sinh có thể học được tiếp theo trên cơ sở cấu trúc của năng lực và Rubric tham chiếu;

– Lập kế hoạch hỗ trợ, can thiệp để giúp học sinh tiếp tục học ở quá trình học tập kế tiếp trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng đã có ở quá trình học tập ngay trước đó;

– Hợp tác với các giáo viên khác để thống nhất sử dụng các phương pháp, công cụ thu thập bằng chứng, tập trung xác định những kiến thức, kĩ năng HS cần phải có ở quá trình học tập tiếp theo trên cơ sở cấu trúc của năng lực, chia sẻ các biện pháp can thiệp, tác động và quan sát các ảnh hưởng của nó.

ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

Định hướng sử dụng kết quả đánh giá để đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn

Câu 1: Chọn ĐA đúng

Câu 2: Chọn 2 ĐA 1-2 (HS và GV)

Câu 3: Sắp xếp thứ tự đúng:

Kết quả đánh giá => Phân tích tồn tại => Chỉ ra nguyên nhân => Đề xuất biện pháp => Điều chỉnh, đổi mới PPDH

XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HS

Câu 1: ĐA hoạt động viết

Câu 2: 4 mức độ trong đường phát triển các năng lực đặc thù của môn Ngữ Văn:

-Vượt chuẩn

-Đạt chuẩn

-Gần đạt chuẩn

-Dưới chuẩn

Câu 3: Phân tích đường phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin của HS lớp 6:

-Mức độ vượt chuẩn: Nhận biết được các chi tiết trong văn vản, phân tích được mối liên hệ và vai trò giữa các chi tiết, dữ liệu với thông tin cơ bản của văn bản.

-Mức độ đạt chuẩn: Nhận biết được các chi tiết trong văn vản, chỉ ra được mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu với thông tin cơ bản của văn bản.

-Mức độ gần đạt chuẩn: Nhận biết được đa số các chi tiết trong văn vản, chỉ ra được mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu với thông tin cơ bản của văn bản.

-Mức độ dưới chuẩn: Không nhận biết được đa số các chi tiết trong văn vản, không phân tích được mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu với thông tin cơ bản của văn bản.

BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM

Câu 1: Phát biểu nào sau đây KHÔNG đúng về đánh giá năng lực?

ĐA 3: Đánh giá việc kiến thức, kĩ năng…

Câu 2: Nguyên tắc nào sau đây được thực hiện khi kết quả học sinh A đạt được sau nhiều lần đánh giá vẫn ổn định, thống nhất và chính xác?

ĐA 2: Đảm bảo độ tin cậy

Câu 3: Ở cấp độ lớp học, kiểm tra đánh giá nhằm mục đích nào sau đây?

ĐA1: Hỗ trợ hoạt động dạy học

Câu 4: Theo quan điểm phát triển năng lực, đánh giá kết quả học tập lấy việc kiểm tra khả năng nào sau đây của học sinh làm trung tâm của hoạt động đánh giá?

ĐA 4: Vận dụng sáng tạo kiến thức

Câu 5: Loại hình đánh giá nào dưới đây được thực hiện trong đoạn viết: “…Bạn N thân mến, mình đã xem sơ đồ tư duy do bạn thiết kế, nó thật đẹp, những thông tin được bạn khái quát và diễn tả trên sơ đồ rất thực tế, dễ hiểu và hữu ích. Mình nghĩ nếu những thông tin đó được gắn với những số liệu gần đây nhất thì sơ đồ bạn thiết kế sẽ rất hoàn hảo cả về hình thức và nội dung…”?

ĐA3: Đánh giá đồng đẳng

Câu 6: “Thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho HS và GV biết những gì họ đã làm được so với mục tiêu” là:

ĐA 2: Mục đích của đánh giá thường xuyên

Câu 7: Văn bản nào dưới đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có nội dung hướng dẫn các trường phổ thông tổ chức cho GV sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá?

ĐA 2: Công văn 5555

Câu 8: Dựa vào tiêu chí nào sau đây để phân chia đánh giá thành: Đánh giá trên lớp học, đánh giá dựa vào nhà trường và đánh giá trên diện rộng?

ĐA 4: Phạm vi đánh giá

CÂu 9: Theo quan điểm đánh giá năng lực, đánh giá kết quả học tập cần tập trung vào hoạt động đánh giá nào sau đây?

ĐA: Hiểu đúng kiến thức

Câu 10: Chọn những phát biểu đúng về đánh giá năng lực?

ĐA 1: Là đánh giá sự tiến bộ của ng học so với chính họ

ĐA 4: Thực hiện ở mọi thời điểm…

ĐA 6: Đánh giá năng lực là đánh giá khả năng vận dụng…

Câu 11: Cách đánh giá nào sau đây phù hợp với quan điểm đánh giá là học tập?

ĐA 1: HS tự đánh giá

Câu 12: Khi xây dựng bảng kiểm, khó khăn nhất là: (Chọn phương án đúng nhất)

ĐA 1; Phân tích…

Câu 13: Nhận định nào dưới đây KHÔNG đúng về hình thức đánh giá thường xuyên? (Chọn phương án đúng nhất)

ĐA 2: Để so sánh HS

Câu 14: Nhận định nào sau đây KHÔNG đúng về đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông?

ĐA1: Là đánh giá sự tiến bộ của HS đo bằng điểm số…

Câu 15: Nhận định nào sau đây KHÔNG ĐÚNG về phương pháp quan sát trong đánh giá kết quả giáo dục ở trường phổ thông?

ĐA2: Thu thập được thông tin kịp thời, nhanh chóng…

ĐA4: Đảm bảo khách quan, ko phụ thuộc…

Câu 16: Phương pháp quan sát trong đánh giá giáo dục có khả năng đo lường tốt ở lĩnh vực nào sau đây?

ĐA 4; Lĩnh vực thái độ và kĩ năng

Câu 17: Công cụ đánh giá kết quả học tập nào sau đây được dùng phổ biến cho phương pháp kiểm tra viết ở trường phổ thông?

ĐA4: Câu hỏi tự luận, câu hỏi TNKQ
Câu 18: Công cụ đánh giá nào sau đây hiệu quả nhất để đánh giá các mức độ đạt được về sản phẩm học tập của người học?

ĐA: BT thực tiễn

CÂu 19: Phát biểu nào sau đây KHÔNG đúng về đánh giá năng lực?

ĐA2: Đánh giá việc đạt kiến thức, kĩ năng…

ĐA4: Đánh giá việc vận dụng kiến thức, kĩ năng…

Câu 20: Để xây dựng đường phát triển năng lực trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS cần dựa trên cơ sở nào?

Đa 2: yêu cầu cần đạt của chương trình

Câu 21: Quan niệm nào sau đây là đúng về đường phát triển năng lực Ngữ văn của học sinh THCS?

ĐA 2: Là sự mô tả các mức độ phát triển khác nhau của năng lực Ngữ Văn

Câu 22: Kĩ năng nghe nói KHÔNG được đánh giá bằng phương pháp nào?

ĐA 1: PP kiểm tra viết

Câu 23: Một giáo viên yêu cầu HS xây dựng công cụ đánh giá kết quả hoạt động thảo luận nhóm của nhóm bạn. Giáo viên đó muốn HS xây dựng công cụ đánh giá nào sau đây?

ĐA 3; Rubric

Câu 24: Sau khi tổ chức cho HS các nhóm báo cáo kết quả thảo luận, GV đã sử dụng một bản mô tả cụ thể các tiêu chí đánh giá với các mức độ đạt được của từng tiêu chí để HS đánh giá lẫn nhau. Bản mô tả đó là công cụ đánh giá nào dưới đây?

ĐA 1: Phiếu đánh giá theo tiêu chí

Câu 25: Đối tượng nào sau đây KHÔNG tham gia đánh giá thường xuyên?

ĐA 1: Tổ chức kiểm định các cấp

Câu 26: Trong dạy học môn Ngữ văn, để đánh giá sản phẩm của học sinh GV sẽ sử dụng công cụ đánh giá nào sau để đạt được mục đích đánh giá

ĐA 3; Rubric

Câu 27: Theo thang nhận thức của Bloom, mẫu câu hỏi nào sau đây được sử dụng để đánh giá mức độ vận dụng của HS?

ĐA 1: Em sẽ thay đổi…

Câu 28: Ở cấp độ quản lí nhà nước, kiểm tra đánh giá không nhằm mục đích nào sau đây?

ĐA 3: Hỗ trợ hoạt động dạy học…

Câu 29: Nhận định nào sau đây không đúng khi phát biểu về hình thức đánh định kì?

ĐA 3: Đánh giá cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS…

Câu 30: Sau khi tổ chức cho HS các nhóm báo cáo kết quả thảo luận, GV đã sử dụng một bản mô tả cụ thể các tiêu chí đánh giá với các mức độ đạt được của từng tiêu chí để HS đánh giá lẫn nhau. Bản mô tả đó là công cụ đánh giá nào dưới đây?

ĐA 3: Rubric

Mời các bạn tham khảo các giáo án khác trong phần Dành cho giáo viên của mục Tài liệu.