Ngữ Văn

Hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng

202

Qua bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Hãy cùng thiquocgia.vn tham khảo các bài văn mẫu hay về phân tích hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng để thấy rõ hơn vẻ đẹp người lính Cụ Hồ.

Dàn ý hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến

– Thể loại

Kiểu bài phân tích nhân vật văn học. cụ thể là phân tích đặc điểm nhân vật trong tác phẩm trữ tình.

– Nội dung:

Vẻ đẹp của người lính cách mạng trong kháng chiến chống Pháp (qua bài thơ Tây Tiến).

GỢI Ý

Cần tập trung vào mấy ý chính sau đây.

A. MỘT BIỂU TƯỢNG THƯƠNG NHỚ

Người lính hiện về hồi ức như một biểu tượng xa vời trong thời gian và không gian (Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi… Tây Tiến người đi không hẹn ước – Dường lên thăm thẳm một chia phôi – Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy) nhưng vẫn là hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (Nhớ về, nhơ chơi vơi…)

B. VẺ ĐẸP TRONG ĐỜI SỐNG TÂM HỒN

1. Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể, với những bước đi nặng nhọc trên đường hành quân cùng với những đói rét bệnh tật, tiều tụy về hình hài, song rất phong phú trong đời sống tâm hồn, với những khát vọng mãnh liệt của tuôi trẻ (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc).

2. Họ nhạy cam trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng với những cảnh sắc độc đáo rất tinh tế (hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc, dòng nước lũ, hoa đong đưa).

– Tâm hồn người lính cháy bỏng những khát vọng chiến thắng, đồng thời cũng ôm ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Hoặc vẻ đẹp của người con gái núi rừng có nét hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (Kìa em xiêm áo tự bao giờ).

C. SỰ HI SINH ĐẦY BI TRÁNG

Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn, đa tình, đa cảm, đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng (Áo bào thay chiếu anh về đất – Sông Mã gầm lên khúc độc hành), tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên.

Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt, hòa với bước dường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước:

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Link download văn mẫu: https://drive.google.com/file/d/1gaxKbryH1r2BSWBoezixnLP-rbp1X7NZ/view?usp=sharing

Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của  Quang Dũng 

Dàn ý hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến 

– Thể loại 

Kiểu bài phân tích nhân vật văn học. cụ thể là phân tích đặc điểm nhân vật trong  tác phẩm trữ tình. 

– Nội dung: 

Vẻ đẹp của người lính cách mạng trong kháng chiến chống Pháp (qua bài thơ Tây  Tiến). 

GỢI Ý 

Cần tập trung vào mấy ý chính sau đây. 

A. MỘT BIỂU TƯỢNG THƯƠNG NHỚ 

Người lính hiện về hồi ức như một biểu tượng xa vời trong thời gian và không gian  (Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi… Tây Tiến người đi không hẹn ước  – Dường lên thăm thẳm một chia phôi – Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy) nhưng vẫn  là hoài niệm không dứt, một nỗi thương nhớ mênh mang (Nhớ về, nhơ chơi vơi…) 

B. VẺ ĐẸP TRONG ĐỜI SỐNG TÂM HỒN 

1. Người lính được miêu tả rất thực trong những sinh hoạt cụ thể, với những bước  đi nặng nhọc trên đường hành quân cùng với những đói rét bệnh tật, tiều tụy về  hình hài, song rất phong phú trong đời sống tâm hồn, với những khát vọng mãnh  liệt của tuôi trẻ (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc). 

2. Họ nhạy cam trước vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng với những cảnh sắc độc đáo  rất tinh tế (hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc, dòng nước lũ, hoa đong  đưa). 

– Tâm hồn người lính cháy bỏng những khát vọng chiến thắng, đồng thời cũng ôm  ấp những giấc mơ đẹp về tình yêu tuổi trẻ (Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Hoặc vẻ đẹp của người con gái núi rừng có nét  hoang sơ, kiều diễm đến sững sờ (Kìa em xiêm áo tự bao giờ). 

C. SỰ HI SINH ĐẦY BI TRÁNG 

Người lính hiện lên chân thực, thơ mộng, lãng mạn, đa tình, đa cảm, đồng thời  cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng (Áo bào  thay chiếu anh về đất – Sông Mã gầm lên khúc độc hành), tác giả tạo được không  khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. 

Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt,  hòa với bước dường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước: Tây Tiến người đi không hẹn ước 

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy 

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. 

Bài văn mẫu 1 

Vào một đêm cuối năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, cái làng nhỏ nằm ven bờ con  sông Đáy, Quang Dũng bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm còn tươi nguyên. Năm ấy  Quang Dũng là đội trưởng đoàn quân Tây Tiến làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội  Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh địch trên tuyến đường rừng núi Tây Bắc từ  Lai Châu đến bắc Thanh Hóa. Những người lính của trung đoàn Tây Tiến sống vô  cùng thiếu thốn khổ cực, vì rừng thiêng nước độc, sốt rét hoành hành, thuốc men ít  ỏi, vì dưới hành quân là trập trùng núi rừng hoang vu, hiểm trở. 

Những người lính Tây Tiến hầu hết là thanh niên Hà Nội, phần đông là học sinh,  tiểu tư sản trí thức, tuy chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ vẫn phơi phới tinh thần  lãng mạn anh hùng. Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến năm 1918 (trước đây lấy  tên là “Nhớ Tây Tiến”) để thể hiện nỗi nhớ và niềm yêu về một thời chiến đấu gian  khổ mà hào hùng, dữ dội mà mê say. 

Để khắc họa chân dung người lính, Quang Dũng đã sử dụng những chi tiết, hình  ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng  bút pháp lãng mạn để tô đậm cái phi thường tài hoa, đem đến cho người đọc một  vẻ đẹp độc đáo hiếm có của người lính trong một thời kì lịch sử. Bài thơ được viết  theo mạch cảm xúc nhớ thương nên nó mở đầu bằng câu thơ biểu hiện nỗi nhớ ấy. 

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi 

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi 

Hình ảnh sông Mã anh hùng mở đầu bài thơ như hé mở cho người đọc những câu  chuyện oai hùng của binh đoàn Tây Tiến. Trên bước đường ra trận, những người  lính Tây Tiến có sông Mã đi cùng bởi vậy cũng thật tự nhiên mà ngay từ đầu bài  thơ Quang Dũng gọi tên “sông Mã”. Câu thơ giống như một tiếng gọi tha thiết ám  ảnh, khoảng cách địa lý thì xa xôi vời vợi mà nỗi nhớ lại luôn thường trực. Trong  lòng câu thơ thứ hai dùng hai chữ “nhớ”, lại được ngắt nhịp 4/3 đã diễn tả tinh tế  những thổn thức, mong mỏi, khao khát nhung nhớ của tác giả. Cái đặc sắc chính là  ở ba chữ “nhớ chơi vơi”, chữ “chơi vơi” làm cho người đọc có cảm nhận như lan  tỏa vào không gian và thấm sâu vào lòng người, một chút chống chếnh, một chút  hụt hẫng, một chút nao lòng. Nỗi nhớ Tây Tiến tưởng như xa mà lại hóa gần,  tưởng dịu nhẹ mơn man và lại có sức ám ảnh khôn xiết. Không những thế, người  đọc còn như nghe được trong những chữ “nhớ chơi vơi” ấy âm hưởng của núi  rừng, của sông suối Tây Tiến. Câu thơ reo vần “ơi” tạo ra được độ dịu nhẹ lâng  lâng trong cảm xúc, ở đây cảm xúc nhớ thương giống như một sợi tơ tình bện chặt  lòng người. Ngay sau đó nhà thơ đã cụ thể hóa nỗi nhớ của mình. 

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi 

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Các địa danh Sài Khao, Mường Lát trong nỗi nhớ của Quang Dũng trở nên thân  gần kì lạ. Viết về hình ảnh đoàn quân mỏi, Quang Dũng lại điểm thêm vào đó hình  ảnh “sương lấp”, “hoa về”, “đêm hơi”. Rõ ràng là ở đây chất hiện thực đã đi liền  với chất lãng mạn tạo nên nét vẽ độc đáo về Tây Tiến. 

Trong cảm xúc nhớ thương của nhà thơ, bức tranh Tây Tiến như được khoác sắc  màu huyền ảo, thơ mộng, giàu sắc thái lãng mạn khung cảnh rừng núi mà đoàn  quân Tây Tiến bước chân qua vừa thơ mộng vừa hùng vĩ. Trong nỗi nhớ, những kỷ  niệm còn tươi nguyên như sống dậy, nhà thơ nhớ đến hình ảnh một thời gian khổ: 

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 

Heo hút cồn mây súng ngửi trời 

Hai câu thơ mang giá trị tạo hình cao diễn tả một cách cụ thể và sinh động nhất  những gian khổ của người lính Tây Tiến trên đường ra trận. Câu thơ thứ nhất ngắt  nhịp 4/3 và chủ yếu được gieo thanh trắc đã gợi cho người đọc cảm nhận về một sự  trúc trắc gập ghềnh đầy hiểm nguy. Nhưng cái hay của câu thơ chính ở hai từ láy  “khúc khuỷu, “thăm thẳm”, nó gợi cho người đọc những cảm nhận về một không  gian được mở ra nhiều chiều; cao, rộng, sâu, xa, người đọc như sẻ chia được cùng  với người lính những vất vả, gian khó. Câu thơ thứ hai chữ “heo hút” được dùng  rất đặc sắc, nó khác với hun hút, nếu “hun hút” gợi được độ sâu thì heo hút không  giới hạn, từ heo hút không chỉ gợi ra độ sâu mà còn thêm cả cảm giác hoang vắng,  lạnh lẽo, hiu quạnh. Địa hình chiến đấu của người lính Tây Tiến quả thực đầy gian  khó và nguy hiểm. Hơn thế nữa ba chữ “súng ngửi trời” được sử dụng thật độc đáo,  nó cũng giống như hình ảnh “đầu súng trăng treo” của Chính Hữu bao trùm lên  hình ảnh là một không gian tưởng tượng lãng mạn, nhưng nó được bắt nguồn từ  cuộc sống hiện thực, từ con mắt tinh tế và ngòi bút đa tài của nhà thơ. Nhờ hình  ảnh “súng ngửi trời”, câu thơ nói về những gian khổ vất vả nhưng lại làm ngời lên  khí phách ngạo nghễ và tư thế hiên ngang của con người, ngoài ra nó còn thể hiện  một chút dí dỏm tinh nghịch, một phong cách lính trẻ trung và lãng mạn. Giữa  thiên nhiên hoang sơ vắng lạnh, hình ảnh con người không cảm thấy bé nhỏ cô đơn  mà lại khẳng định tư thế làm chủ, khẳng định bản lĩnh của một chiến sĩ anh hùng  và tinh thần lạc quan của con người. Không những thế, hình ảnh một thời gian khổ  còn được biểu hiện qua những câu thơ: 

Chiều chiều oai linh thác gầm thét 

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người 

Hình ảnh “oai linh thác gầm thét” “Mường Hịch cọp trêu người” là những dẫn  chứng sống động nhất về những gian khổ hiểm nguy mà người lính Tây Tiến đã  phải trải qua khoảng thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” trở thành một khoảng thòi  gian ước lệ, nó giống như một ám ảnh về Tây Tiến thời gian in sâu trong tiềm thức  của chính tác giả. Viết về những gian khổ của người lính, ngòi bút của Quang  Dũng cũng ghi lại những hình ảnh hết sức chân thực:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa 

Gục lên súng mũ bỏ quên đời 

Bao nhiêu vất vả nhọc nhằn của người lính được thể hiện qua hai chữ “dãi dầu”.  Tuy nhiên từ “dãi dầu” vẫn giúp cho người đọc cảm nhận được chút phong trần giá  bụi của người lính trên đường hành quân, phải chăng vì thế hình ảnh của họ thấp  thoáng bóng dáng của người tráng sĩ, chinh phu thuở nào. Qua những chữ “bỏ quên  đời” ta thấy khí phách bản lĩnh của người lính lại được ngời sáng từ chính những  hiện thực tưởng chừng như gian khổ khốc liệt – một chút bất cần phó mặc nhưng  hơn hết là một tráng trí anh hùng, dẫu là mỏi mệt hay dầu là hy sinh thì họ vẫn coi  những biểu hiện ấy rất đỗi nhẹ nhàng. Những người lính Tây Tiến khi chiến đấu  thật anh dũng quả cảm nhưng những giây phút nghỉ ngơi của họ cũng đầy lãng  mạn, mê say: 

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 

Kìa em xiêm áo tự bao giờ 

Khèn lên man điệu nàng e ấp 

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ 

Họ bỏ lại sau lưng mình những hòn tên mùi đạn, gạt bỏ những lo lắng vất vả của  cuộc chiến, giữa đời thường, người lính Tây Tiến hiện lên thật bình dị, gần gũi.  Một buổi liên hoan bỗng chốc biến thành một ngày hội tưng bừng náo nhiệt qua  lăng kính lãng mạn của người chiến sĩ không gian của đêm hội đuốc hoa thật rực  rỡ lung linh, câu thơ tràn đầy ánh sáng và màu sắc, trong thơ như có họa. Chữ  “bừng” được dùng rất hay, nó không chỉ là sự bùng lên của ánh sáng, của bó đuốc  đêm hội mà là sự bùng lên của niềm vui, niềm say mê kiêu hãnh. Trong sự náo nức  của đêm hội ấy, hình ảnh người em gái là hình ảnh trung tâm, bao nhiêu con mắt  như đổ dồn về phía người em gái để mà “kìa em xiêm áo tự bao giờ” – một cảm xúc  ngạc nhiên đến sững sờ nhưng đi liền ngay sau đó là cảm xúc ngây ngất đắm đuối  và say mê. Từ Hán việt “xiêm áo” tạo ra nét trang trọng, ở đây hình ảnh người em  gái như được mỹ lệ hóa. Những chữ “tự bao giờ” như không giấu nổi cảm xúc  ngây ngất của những người lính Tây Tiến, họ ngỡ như hình ảnh của đêm hội với  người em gái ấy đã có tự lâu lắm để rồi bất chợt lại thấy ngỡ ngàng. Bức tranh đêm  hội được lung linh hóa, mỹ lệ hóa để rồi người đọc tưởng người em gái ấy tựa như  một nàng tiên bước ra từ cổ tích giữa hiện thực khốc liệt dữ dội người ta bắt gặp  hình ảnh như là huyền thoại, đây chính là sắc thái lãng mạn của bài thơ. Điểm thêm  vào bức tranh đêm hội ấy là hình ảnh của nhạc, của khèn, nhịp thơ đồng thời là  nhịp của tiếng lòng náo nức mê say, tiếng nhạc của tâm hồn như lan tỏa ra từng câu  chữ. Một thời mê say và lãng mạn của người lính Tây Tiến còn được gọi nhắc qua  hình ảnh rất đẹp đẽ: 

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói 

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Hình ảnh của cơm lên khói, hương vị của nếp xôi nồng nàn mà tha thiết như quyện  chặt tâm hồn người đi xa. Câu thơ chủ yếu gieo thanh bằng, tạo ra một cảm xúc  lâng lâng chơi vơi, một chút bâng khuâng nhung nhớ, một chút da diết khắc khoải  cũng đủ làm nao lòng người khi nhớ về Tây Tiến. Viết về một thời mê say ấy,  Quang Dũng có những câu thơ rất đỗi tài hoa. 

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống 

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi 

Câu thơ thứ nhất như được bẻ gãy làm đôi, gợi ra cái trập trùng hiểm trở của núi  rừng Tây Tiến. Còn câu thơ thứ hai giống như một tiếng buông lơi thật dịu nhẹ  chơi vơi. Câu thơ như đẩy tư duy người đọc về một hoài niệm nào đó đã xa vắng  trong nỗi niềm của tác giả: tưởng là mơ hồ không xác định, tưởng là vu vơ bất chợt  nhưng lại cứ ám ảnh và khắc khoải trong tâm trí tác giả, không những thế, câu thơ  còn cố tiết tấu giai điêu rất rõ thể hiện tính nhạc cao. Như vậy người chiến sĩ cũng  chính là người nghệ sĩ. Cuộc sống kháng chiến không chỉ có gian khổ mất mát mà  còn đẹp lung linh trong tâm hồn người lính. Chính cuộc sống này, cuộc sống đầy  chất thơ và mộng này, đã xua tan đi những mỏi mệt, gian lao trong đời sống chiến  đấu của người lính. Tiếp đó, mạch cảm xúc đã có sự chuyển đổi: đang ở giọng náo  nức giục giã mê say chuyển sang giọng điệu trầm lắng, bâng khuâng pha một chút  hoài niệm ngậm ngùi: 

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 

Có thấy dáng người trên độc mộc 

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa 

Hoài niệm của tác giả bắt đầu từ hình ảnh “chiều sương ấy”, không gian như  thoáng phủ một nỗi buồn mênh mang. Chữ “ấy” có ý nghĩa định vị về mặt không  gian như muốn đẩy những kỉ niệm lùi về một nơi rất xa, nó giúp cho người đọc  cảm nhận được khoảng cách vời vợi của nhớ thương. Những câu thơ gợi nhiều hơn  tả, các hình ảnh được gợi ra không phải là những hình ảnh cụ thể chi tiết mà chỉ là  dáng, là hình, rất khó định hình, khó nắm bắt. Nhà thơ dường như không miêu tả  cảnh mà chỉ gợi lại cái linh hồn của nó, hay nói đúng hơn cảnh vật được nhìn qua  lăng kính nhớ thương, không rõ nét, mờ mờ ảo ảo, hư hư thực thực. Không phải  miêu tả lau mà là “hồn lau”, không phải miêu tả người mà là “dáng người”, người  đọc cảm nhận được một không gian hoang sơ vắng lặng đượm một nỗi buồn mênh  mang. Đặc sắc nhất của khổ thơ là việc sử dụng cấu trúc câu “có thấy”, “có nhớ”.  Đây không chỉ là câu hỏi mà còn giống như một lời gợi nhắc, một lời nhắn nhủ tha  thiết ân tình. Phải chăng hồn lau ấy, dáng người ấy đã trở thành những hình ảnh ám  ảnh tâm hồn tác giả, để rồi khi gợi nhắc về nó giống như một điểm nhấn của xúc  cảm. Đặc biệt, sự biến đổi trong cách sử dụng các cụm từ “có thấy”, “có nhớ” còn  là sự thay đổi về giác quan, không chi là cái nhìn mà còn là tâm hồn, trái tim được  đánh thức. Câu thơ thứ tư khá độc đáo, nó xuất hiện hình ảnh “nước lũ” đối lập với 

hình ảnh “hoa đong đưa”: một bên là cái mạnh mẽ dữ dội, một bên là cái nhẹ nhàng  thật khẽ thật êm. Có lẽ hình ảnh “hoa đong đưa” không còn là hình ảnh tả thực mà  đã trở thành hình ảnh diễn tả tâm trạng nỗi niềm của tác giả. Từ láy “đong đưa”  khác với từ láy “đu đưa”, nó không chỉ miêu tả dáng hình và sự chuyển động như  từ “đu đưa” mà còn là đầy tình ý, nó còn là sự đong đưa của ánh mắt đầy hoài niệm  mê say, đầy sắc thái lãng mạn và phong cách sáng tạo nghệ thuật độc đáo của  Quang Dũng. Đọc Tây Tiến chúng ta như sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn  quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử. Để khắc họa chân dung người lính, nhà thơ đã sử  dụng những chi tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh  đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạng để tô đậm cái phi thường, tài hoa,  đem đến cho người đọc một vẻ đẹp độc đáo hiếm có của người lính trong thời kỳ  lịch sử: 

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc 

Quân xanh màu lá dữ oai hùm 

Nhà thơ Quang Dũng gọi tên binh đoàn của mình bằng tên gọi khá thú vị “đoàn  binh không mọc tóc”. Thật thú vị khi những con người ấy lại lấy chính hiện thực  gian khổ khốc liệt để biến thành niềm kiêu hãnh và tự tôn cho chính mình. Nhà thơ  Phạm Tiến Duật cũng đã từng gọi tiểu đội của mình bằng cái tên bắt nguồn từ hiện  thực thiếu thốn khắc nghiệt “tiểu đội xe không kính”, qua đó ta thấy được tinh thần  lạc quan và chất lính dí dỏm hài hước. Câu thơ thứ hai tạo ra hai vế đối lập: “quân  xanh màu lá” với “dữ oai hùm”, một bên là cái thiếu thốn khó khăn gian khổ, một  bên là khí phách anh hùng của những người lính Tây Tiến. Ba tiếng “dữ oai hùm”  tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ hùng tráng cho câu thơ, người đọc cảm nhận được  khí thế của đoàn quân ra trận, câu thơ ngắt nhịp mạnh tô đậm nét hùng dũng.  Những người lính Tây Tiến cũng là những người lắm mộng nhiều mơ, những  người giàu khát vọng hoài bão. Đến đây nhà thơ đã tạo ra nét vẽ chân thực về hình  ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp: 

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm 

Hai câu thơ đã nhấn mạnh chữ “mộng” và “mơ”. Từ “trừng” được dùng khá đặc  sắc, nó cho thấy bao nhiêu tâm nguyện, bao nhiêu khát vọng hoài bão tự đáy lòng  đêu dâng cả lên trên ánh mắt. “Mắt trừng” chỉ một hành động mạnh, nhưng không  phái là trừng trị, dọa nạt mà là cái nhìn đau đáu, khôn nguôi thể hiện những nhung  nhớ, ước ao đến khắc khoải. Chữ “mộng” khiến cho câu thơ như bị trùng xuống, ẩn  chứa xúc cảm bâng khuâng. Câu thơ của Quang Dũng gợi nhắc người đọc tới một  câu thơ của Nguyền Đình Thi: “Những đêm dài hành quân nung nấu – Bỗng bồn  chồn nhớ mắt người yêu”. Nỗi nhớ người yêu, nhớ “dáng kiều thơm” nào đó thật  đời thường, bình dị nhưng cũng thật cao quý. Nó khiến cho hình ảnh người lính trở  nên chân thực gần gũi hơn. Nỗi nhớ ấy trong hành trang của họ như tiếp thêm sức  mạnh nghị lực để chiến đấu và chiến thắng, nó như một điểm tựa vững chắc cho 

những thanh niên học sinh Hà Nội rời ghế nhà trường tham gia chiến trận – những  con người “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”. 

Những người lính Tây Tiến sống anh hùng mà chết cùng anh hùng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ 

Chiến trường đì chẳng tiếc đời xanh 

Áo bào thay chiếu anh về đất 

Sông Mã gầm lên khúc độc hành 

Cái độc đáo là nhà thơ viết về sự ra đi của họ nhưng không tô đậm sự sầu thương  bị lụy, sự ai oán não nùng mà nhấn mạnh dũng khí hùng tráng, khí phách anh hùng.  Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ đến đây âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng  xuống, nó giống như một thước phim quay chậm. 

Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, sự chấp nhận gian khổ của người lính.  Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao mồ viễn xứ của những  kẻ chết xa quê. Nhưng những người chiến sĩ của chúng ta nhìn với ánh mắt bình  thản bởi họ chấp nhận điều đó. Nếu câu thứ nhất tô đậm cái “Bi” thì câu thứ hai tô  đậm nét “Tráng”, “Hùng”. Câu thơ thứ hai giống như một cái hất đầu ngạo nghễ  của anh lính Tây Tiến: bất chấp khó khăn, bỏ mặc chết chóc hiểm nguy cận kề,  những người lính Tây Tiến vẫn kiên định trong ý chí, dũng cảm trong hành động,  ngạo nghễ trong khí phách người anh hùng. Tác giả mượn hình ảnh “áo bào” để  gợi tả sự ra đi của những người lính. Đặc biệt nó còn gắn với hình ảnh thiêng liêng  và tạo ra sắc thái trang trọng, giảm bớt nỗi buồn thương bi lụy. Nó tạo ra một hình  ảnh hết sức cảm động, giống như một sự sẻ chia đồng cảm của tác giả đối với  những người lính Tây Tiến. Câu thơ tiếp lại xuất hiện hình ảnh sông Mã – chứng  nhân của lịch sử. Sông Mã tấu lên “khúc độc hành” – khúc ca đơn độc buồn  thương. Chữ “gầm” – biện pháp nhân hóa, nỗi nhớ thương của lòng người như hóa  thân vào nỗi nhớ thương của dòng sông hay dòng sông ấy đang chở đi những khúc  ca đau đớn của con người. “Anh về đất” là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện  xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiếng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại  bác rền vang, vĩnh biệt người con yêu dấu của giống nòi. Cuối cùng, sau khi đã hồi  tưởng lại bình ảnh đoàn binh Tây Tiến một thời mê say lãng mạn, Quang Dũng đã  bộc lộ nỗi niềm mong ước gặp lại Tây Tiến: 

Tây Tiến người đi không hẹn ước 

Đường lên thăm thẳm một chia phôi 

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy 

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi 

Câu thơ đã trở về với mạch cảm xúc chung của bài thơ, cảm xúc thương nhớ,  nhưng vẫn mang trong nó âm hưởng tráng trí ngất ngời. Câu thơ nói về biệt li, về  xa cách, có ngậm ngùi nuối tiếc nhưng vần đầy dũng khí, quyết tâm. Khoảng cách  càng xa thăm thẳm thì nỗi nhớ càng trở nên vời vợi bởi xa Tây Tiến không biết bao  giờ mới gặp lại. Người đọc cảm thấy nỗi nhớ thương như là đang đầy cả câu thơ. 

Hai câu cuối, giọng điệu và mạch cảm xúc có sự chuyển hướng: câu thơ giống như  một lời mời gọi, một lời nhắn nhủ, ước hẹn tha thiết ân tình. Phải chăng đây là lời  hẹn gặp Tây Tiến vào mùa xuân – mùa xuân của hội ngộ, của chiến thắng. Điều đó  chứng tỏ tác giả mong ngày gặp lại Tây Tiến, trở về Tây Tiến chính là ngày chiến  thắng. Câu thơ kết vang lên đầy kiêu hãnh như một lời thề, lời hứa quyết tâm. Từ  nỗi nhớ về một đoàn binh, về những con người cụ thể đã hóa thân thành nỗi nhớ về  một mảnh đất, một quê hương, Tây Tiến đã trở thành nỗi nhớ, niềm yêu tha thiết  của Quang Dũng. 

Nhà phê bình Phong Lan nhận định: “Tây Tiến là một tượng đài bất tử về người  lính vô danh” – bất tử bởi chính những vẻ đẹp hào hoa, hào hùng bi tráng. Vì vậy,  người lính Tây Tiến qua bài thơ cùng tên của Quang Dũng sẽ sống mãi trong cõi  vĩnh hằng và trong thế giới nhân sinh.

0 ( 0 bình chọn )

Thi Quốc Gia Thi THPT Quốc Gia 2021 của nhà xuất bản Giáo Dục Việt nam

https://thiquocgia.vn
Tổng hợp tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia 2020 - 2021, Thi tốt nghiệp, Tài liệu luyện thi

Bài viết liên quan

Kết nối với chúng tôi

Sự kiện nổi bật

thi sinh lo lang vi de thi lich su kho nhieu kien thuc lop 11

Thứ 5

23/02/2021 08:00

Xem nhiều

Chủ đề

Bài viết mới

Xem thêm