Dành cho giáo viênTài liệu

Sáng kiến kinh nghiệm giúp đỡ học sinh cá biệt tiến bộ trong học tập

Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục học sinh cá biệt
39

Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục học sinh cá biệt

Sáng kiến kinh nghiệm là một bản báo cáo trong đó cán bộ, giáo viên viết lại những ý tưởng, sáng kiến, kinh nghiệm của mình về công tác giảng dạy, quản lý. Mời các bạn tham khảo Sáng kiến kinh nghiệm giúp đỡ học sinh cá biệt tiến bộ trong học tập.

Sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy

Lời nói đầu

Quý thầy cô thân mến! Trường học đạt được các danh hiệu thi đua “Tiên tiến”, “Xuất sắc” là nhờ vào sự cố gắng, nỗ lực của thầy và trò. Giáo viên dạy giỏi một phần là nhờ chúng ta có được những học sinh giỏi. Nhưng giáo viên dạy giỏi chưa chắc học sinh của mình giỏi hết được. Vì sao? Vì bên cạnh những học sinh ngoan, học giỏi còn có những học sinh không chịu học, không ham học làm ảnh hưởng thi đua của trường, của lớp – đó là những “học sinh cá biệt”.

Sinh thời, Bác Hồ đã từng nói:

“ Hiền dữ đâu phải là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Người giáo viên đứng lớp không chỉ giảng dạy cho các em những bài học về kiến thức, kĩ năng mà còn là người truyền đạt cho các em cả tâm hồn của mình. Bởi vì, nghề dạy học vốn là nghề “Sáng tạo trong các nghề sáng tạo”. Nói theo cách nói của thầy thuốc: Thầy phải“chẩn” đúng bệnh, dùng loại thuốc“đặc trị” phù hợp mới cứu được con“bệnh”cá biệt. Đừng nghĩ “học sinh cá biệt”, bộ mặt lúc nào cũng câng câng, bất cần đời có “trái tim đá”. Dưới vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm là sự hụt hẫng tình thương. Phải là những thầy, cô giáo chủ nhiệm giàu kinh nghiệm, có cách đối nhân xử thế bao dung, vị tha, kiên nhẫn mới phá được“lô cốt”tưởng là“bất khả xâm phạm”, đem đến cho các em hơi ấm tình người, để các em biết người tốt chung quanh ta nhiều lắm.

Mặt khác, chúng ta đã biết, nhiệm vụ của trường học là“dạy”và “dỗ”, giáo dục các em học sinh nên người, kể cả “học sinh cá biệt”. Giáo dục “học sinh cá biệt” là một thử thách, bản lĩnh, lòng vị tha của thầy, cô. Giáo dục học sinh hư thành con ngoan trò giỏi, công dân tốt, để xã hội bớt đi một người xấu. Vậy, làm sao để giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả? Sau đây bản thân sẽ trình bày một số kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc giáo dục “học sinh cá biệt” với mong muốn các em sẽ trở thành những người con ngoan, trò giỏi.

Đề tài này là một số kinh nghiệm của bản thân đã nghiên cứu thực hiện, áp dụng và đạt kết quả khả quan. Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, bản thân được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu và sự hỗ trợ của các giáo viên khối 5 trong nhà trường nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô cùng tất cả các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để cho đề tài được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

………, ngày ……tháng ……..năm …………

Người viết

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lí do chọn đề tài:

Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo hiện đang được toàn Đảng, toàn dân quan tâm.Vai trò của người giáo viên trong nhà trường gắn liền với hai nhiệm vụ: Vừa giảng dạy vừa làm công tác giáo dục. Mục đích là đào tạo ra những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm người.

Gần đây, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá nhiều về tình hình “học sinh cá biệt”. Học sinh bỏ học tụ tập băng nhóm, gây gổ đánh nhau, có vụ dẫn đến tử vong. Vấn dề này đã trở thành một mối lo ngại của dư luận, nhất là với gia đình và nhà trường.

Là một người thầy, ai cũng mong ước đem lại những hạnh phúc đơn sơ cho các em, những nụ cười và đôi mắt sáng sung sướng khi trẻ nhận được những thành tích trong học tập và mong ước sự nghiệp giáo dục của mình một ngày một tốt đẹp hơn. Tuy nhiên có nhiều em trưởng thành một cách khó khăn không như các em bình thường khác mà bề ngoài khó nhận biết. Ở trường việc học tập có dấu hiệu như: tiếp thu bài chậm, nghịch phá, lười biếng học bài và làm bài, không biết nghe lời. Còn ở nhà, các em quậy phá quá mức không thèm nghe lời dạy bảo của cha mẹ cũng như người lớn trong gia đình, lơ đãng,… Những biểu hiện đó, chúng ta gọi là những em “học sinh cá biệt”.

Giáo dục là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật. Trước những vụ bạo lực học đường liên tiếp xảy ra gần đây đặt giáo viên và các nhà quản lý giáo dục trước thực tế: Làm thế nào để cảm hóa và giáo dục “học sinh cá biệt” có hiệu quả là một vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một thách thức lớn với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là ngành giáo dục nói riêng, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ của các nhà trường.

Giáo dục “học sinh cá biệt” quả là một vấn đề chúng ta đặt ra câu hỏi “Phải làm sao, dùng phương pháp nào đây?” Việc giáo dục “học sinh cá biệt” phải chăng là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm hay cần có sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội? Với mong muốn góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, bản thân chọn đề tài: “Một số biện pháp để giúp đỡ học sinh cá biệt vươn lên trong học tập.” Vấn đề mà chắc hẳn không chỉ riêng bản thân mà rất nhiều đồng nghiệp khác quan tâm suy nghĩ là làm sao học sinh của mình trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội.

2.Tổng quan về “học sinh cá biệt”:

Trước hết, cần hiểu đúng khái niệm “học sinh cá biệt”. Đó là những học sinh có cá tính khác biệt so với số đông học sinh bình thường (không có nghĩa “học sinh cá biệt” là bất bình thường).

Nói đến “học sinh cá biệt” bao gồm:

2.1 Học sinh cá biệt về học tập

Học sinh có những biểu hiện lười biếng ở tất cả các môn học, hoặc chỉ có một môn nào đó Tiếng Việt hoặc Toán…

Học sinh thường lơ đãng trong giờ học, không chịu nghe giảng, về nhà không chịu làm bài, học bài từ đó học kém, sa sút.

2.2 Học sinh cá biệt về tính cách

Học sinh không chấp hành nội quy, không tham gia phong trào, đi học trễ. Có những biểu hiện khác lạ về cá tính như đến lớp đánh bạn, nghịch ngợm, phá phách hơn người.

Trong quá trình giáo dục học sinh, “Học sinh cá biệt”- trường nào cũng có. “Học sinh cá biệt” không nhiều, song lại là “lực cản” rất lớn, thậm chí là thế lực “đen” đe dọa, khống chế những nhân tố tích cực dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải ở trong lớp, trong trường. Để giáo dục em đó giáo viên thường giáo dục chung chung, không nghiên cứu xem em đó cá biệt về học tập hay tính cách? Chính vì vậy, bản thân đã phân chia học sinh cá biệt cụ thể theo từng nguyên nhân để giáo dục mang lại hiệu quả cao hơn.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về học sinh cá biệt trong phạm vi lớp 5 trường Tiểu học ……………, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

5. Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp đàm thoại

Đàm thoại với giáo viên chủ nhiệm khối lớp năm, với giáo viên bộ môn Mỹ thuật, Hát nhạc,với giáo viên tổng phụ trách đội, với cha mẹ các em và với bạn bè của các em đó.

5.2 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động học tập (Thái độ của các em khi làm bài, khi làm bài sai có thái độ ra sao? Có sửa bài không? khi làm bài tập sai…)

Quan sát hoạt động vui chơi (Thích trò chơi nào, thái độ trung thực hay gian lận khi tham gia trò chơi…).

Quan sát hoạt động giao tiếp với mọi người xung quanh (Thái độ khi nói chuyện với bạn bè, cách xưng hô với thầy cô giáo, với người lớn tuổi, hành vi tốt xấu với mọi người…).

5.3 Phương pháp giả thuyết

Đưa ra giả thuyết và chứng minh lý giải cho giả thuyết đó.

5.4 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm giáo dục

Phân tích các nguyên nhân dẫn đến “học sinh cá biệt”.

Tổng hợp các biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm khối lớp bốn, của nhà trường và gia đình.

5.5 Phương pháp điều tra

Bằng phiếu điều tra sử dụng câu hỏi đóng hoặc mở với các câu hỏi như:

– Trong các môn học em thích môn nào? vì sao?

– Trong các bộ môn, em thích nhất thầy cô dạy bộ môn nào?

– Khi các thầy cô nhắc nhở em khi em không thuộc bài hoặc bài bị điểm kém, em có suy nghĩ gì?

– Em ước mơ làm nghề gì khi lớn lên ?…

PHẦN II: NỘI DUNG

1. Thực trạng “học sinh cá biệt” trong những năm gần đây của trường Tiểu học ……………

Trường Tiểu học …………… nằm ở xã …………. Bên cạnh những thuận lợi có không ít những khó khăn nhưng thầy và trò đều cố gắng trong giảng dạy và học tập. Nhiều năm qua, nhà trường luôn làm tốt công tác giáo dục học sinh nên hầu hết học sinh trong trường đều chăm ngoan, biết vâng lời thầy cô, cha mẹ. Tuy nhiên, do địa bàn trường có lượng dân cư luôn biến động (do sự di dân tự do đến địa phương tìm việc làm…), đại bộ phận dân cư sống bằng nghề nông vì thế hoàn cảnh một số gia đình còn gặp nhiều khó khăn, cha mẹ các em phải đi làm ăn từ nơi này đến nơi khác nên không chú ý đến việc giáo dục con cái. Mặt khác, một số gia đình có điều kiện nhưng cha mẹ không quan tâm đến việc học tập của con, môi trường xã hội còn nhiều mặt phức tạp, các việc làm xấu đã lôi cuốn một số em vào việc chơi bời, quậy phá,… không chăm lo học tập.

Trong nhiều năm qua, bản thân chủ nhiệm khối lớp 5 đã gặp không ít những trường hợp là “học sinh cá biệt”. Năm nào nhận lớp cũng có một đến hai em “cá biệt” về học tập và hạnh kiểm như: Quốc Anh, Ngọc , Hưng, Ngọc Anh. Các em này thường quậy phá trong lớp, lười biếng học tập,…làm ảnh hưởng đến các bạn trong lớp và các phong trào thi đua của lớp, của trường. Từ những thực trạng trên thôi thúc bản thân tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng “học sinh cá biệt” là do đâu? để từ đó tìm ra biện pháp giúp đỡ “ học sinh cá biệt” vươn lên trong học tập.

2. Cơ sở lí luận:

“Học sinh cá biệt” là những học sinh thường có sự bất thường về tính cách, không có động cơ học tập, tâm lý không ổn định. Chẳng hạn khi ở lớp học đang yên lặng làm bài tập thì em đó bỗng la lớn lên khi làm bài được, thích học thì học, không thích thì đùa giỡn, quậy phá các bạn kế bên, chọc cho bạn giỡn, nói chuyện với mình, tâm trạng thì “mưa nắng thất thường” hoặc thầy cô đang giảng về vấn đề này lại hỏi vấn đề khác.

Chúng ta biết rằng những học sinh được gọi là “cá biệt” thường có hoàn cảnh đặc biệt. Môi trường sống bất ổn đã làm lòng tự trọng của các em có vấn đề. Học sinh cá biệt là học sinh hư về đạo đức, lười nhác học tập. Ở những học sinh này, uy tín của bố mẹ, thầy cô có thể bị thay thế bởi những kẻ cầm đầu, côn đồ hung hãn, liều lĩnh, những anh chị “đại ca” nên rất dễ dàng rơi vào những cạm bẫy, sai khiến xúi giục của các “đàn anh, đàn chị”.

Những biểu hiện cá biệt cụ thể của học sinh thường gặp

2.1 Những đối tượng cá biệt về học lực (có ba loại)

Một là những em có trí tuệ và khả năng nhận thức bình thường nhưng rất lười biếng, lêu lổng, học kiểu “tài tử” dẫn đến hổng kiến thức, hay quay cóp trong học tập. Kết quả học tập thất thường, sút kém, luôn xếp “đội sổ”, dẫn đến chán học.

Hai là những em thiểu năng về trí tuệ: Là những trẻ trông hình thức bề ngoài bình thường, hơi có vẻ như đần độn, trong học tập thì dạy mãi, học mãi chẳng nhập tâm được cái gì (hay nói cách khác là thuộc diện “chậm hiểu”).

Ba là những em thuộc diện khuyết tật (nói ngọng hoặc không nói được, mắt, tai, tay chân…) dẫn dến không đủ giác quan, phương tiện để học tập bình thường như những bạn khác.

2.2 Những đối tượng cá biệt về hạnh kiểm: Thường có những biểu hiện như

Hay trốn học đi chơi điện tử, lừa dối cha mẹ, thầy cô, giả tạo chữ kí của bố mẹ trong sổ liên lạc hoặc giấy xin phép.

Dọa nạt bạn bè thậm chí đánh nhau; lảng tránh các hoạt động tập thể như: lao động, sinh hoạt Đội, sinh hoạt ngoại khóa, …

Tiêu xài các khoản phí của bố mẹ cho để đóng góp với nhà trường. Càn quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo kiểu con nhà đại gia giàu có tụ tập lại với nhau đối lập với tập thể lớp. Các em thích ăn chơi phá phách hơn là học hành tử tế; thậm chí còn có cả ăn cắp, ăn trộm, “cắm quán” tài sản không chỉ của mình mà còn lừa “mượn” của bạn.

Khéo léo, nhanh trí trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy cô, bạn bè. Hay xem thường, trêu ngươi, khiêu khích trước thầy cô, bạn bè nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh nghịch được sắp sẵn trong đầu óc chúng.

Một điều dễ nhận thấy ở những “học sinh cá biệt” là cách nói năng, đi đứng, ăn mặc, hành động rất khác thường, luôn tạo sự chú ý đối với người khác.

Có thể nói, những tác hại do các em “học sinh cá biệt” gây ra là không nhỏ và thậm chí là khá nghiêm trọng. Nó làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung, phong trào thi đua của nhà trường, trật tự trị an xã hội, hạnh phúc gia đình và nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, cuộc sống của các em sau này.

3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng “cá biệt” của học sinh

3.1 Do gia đình

Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ vì ngoài thời gian đi học hầu hết thời gian còn lại các em sống với gia đình.

Vì cuộc sống gia đình quá khó khăn, thiếu thốn kinh tế, bố mẹ mất việc làm. Từ đó trẻ phải lo toan cuộc sống bằng cách phụ bố mẹ làm một công việc gì đó để kiếm tiền, trẻ không có điều kiện để học tập sa sút dẫn đến trẻ chán nản lười học.

Do gia đình bất ổn như cha mẹ chia tay, trẻ phải ở với bố hoặc mẹ hoặc những người thân khác trong gia đình. Trẻ ít được quan tâm, giáo dục, mất đi chỗ dựa từ phía gia đình nên hư hỏng, sống bất cần, phó mặc cho cuộc sống muốn ra sao thì ra.

Do kinh tế gia đình khá giả, bố mẹ lo làm ăn kiếm tiền ít quan tâm đến việc giáo dục con cái mà chỉ bỏ tiền ra chiều theo nhu cầu không chính đáng của con cái. Chính vì quá nuông chiều con như vậy cha mẹ không rèn luyện cho con thói quen trong học tập, sinh hoạt tập thể. Điều đó đã vô tình tạo cho trẻ tính lười biếng thói ỷ lại vào bố mẹ, không chịu rèn luyện. Từ đó, trẻ có những thói hư tật xấu.

3.2 Môi trường học tập

Lớp học có sĩ số quá đông cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến việc học của trẻ. Theo bản thân, nếu lớp học quá đông. Giáo viên không thể quan tâm sâu sắc đến từng em. Mà kinh nghiệp cho thấy trẻ nhỏ cần được quan tâm, chỉ dẫn của người lớn mà trường học đó là giáo viên chủ nhiệm. Nếu chúng ta không quan tâm đến trẻ thì trẻ rất dễ lơ là việc học của bản thân.

Lớp học có nhiều “học sinh cá biệt” cũng là môi trường không tốt đối với trẻ. Trẻ sẽ dễ bị sa ngã theo chúng bạn.

Đối với “học sinh cá biệt” thì chỗ ngồi cũng ảnh hưởng rất lớn đến trẻ, một học sinh cá biệt ngồi xa tầm quan sát của giáo viên. Giáo viên ít có điều kiện theo dõi những hành động quậy phá nói chuyện hoặc lơ đãng việc học của học sinh.

Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: chẳng hạn như người thầy không tìm hiểu trẻ, có những thành kiến nghiêm khắc đối với trẻ hoặc các giảng dạy của thầy làm cho trẻ không thích học.

Mặc cảm tự tôn: Đứa trẻ tự thấy mình là hơn người, học giỏi không cần phải học hỏi ai.

Mặc cảm tự ti: Đứa trẻ cảm thấy mình bị hắt hủi, bị tập thể ruồng bỏ.

3.3 Môi trường xã hội

Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến trẻ. Nếu trẻ sống trong môi trường xã hội tốt, có kỉ cương, trật tự thì trẻ sẽ trưởng thành tốt.

Ngày nay, tình trạng sách báo, Game, phim ảnh nhảm nhí tràn lan nó đã thu hút khá đông trẻ nhỏ, khiến các em nhỏ bỏ bê việc học tập, sinh hoạt nề nếp.

Thực trạng những mặt xấu của xã hội. Trong điều kiện xã hội hiện nay, từng giờ, từng ngày những cám dỗ, ảnh hưởng tiêu cực của xã hội dội vào nhà trường và tác động đến học sinh.

3.4 Tâm sinh lý

Về mặt tâm lí: Thông thường những trẻ cá biệt rất hiếu động, có anh hùng cá nhân, thích làm nổi, ưa bắc chước, a-dua…

Về mặt sinh lí học: Một số trẻ cá biệt do bệnh, kém dinh dưỡng, cấu tạo cơ thể có tật, khiếm khuyết.

4. Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt:

Giáo dục “học sinh cá biệt” thật sự là một vấn đề cực kì khó của không chỉ đối với giáo viên mà còn phải có sự hỗ trợ của gia đình và nhà trường và xã hội. Có nhiều nguyên nhân ( như đã nêu ở trên ) khiến càng ngày càng có nhiều “học sinh cá biệt”. Nhưng nguyên nhân do đâu thì ta cũng phải cố gắng khắc phục để đào tạo ra những con người có đạo đức, có năng năng lực. Vai trò của các thầy cô giáo là rất lớn, song phải có sự giúp sức của cả cộng đồng, gia đình và xã hội thì mới có kết quả. Sau đây là một số biện pháp giúp đỡ “học sinh cá biệt” vươn lên trong học tập mà bản thân đã thực hiện có hiệu quả.

4.1 Biện pháp giáo dục đối với học sinh do gia đình

Giáo viên kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh. Thường xuyên thăm hỏi gia đình học sinh để tìm hiểu, trao đổi, nắm được hoàn cảnh giáo dục cũng như sự quan tâm của gia đình đối với trẻ. Từ những yếu tố đó chúng ta mới có thể lựa chọn hình thức giáo dục cho phù hợp.

Đặc biệt, biện pháp đạt kết quả tối ưu nhất là tình thương của giáo viên đối với học sinh. Làm nghề giáo muốn thành công chúng ta phải thật yêu nghề yêu trẻ bởi vì có yêu, có thương thì chúng ta mới quan tâm, chăm sóc, mới tìm hiểu và khích lệ trẻ. Nhất là đối với các em học sinh không được quan tâm do hoàn cảnh gia đình khó khăn thì sự động viên khích lệ của giáo viên sẽ giúp trẻ không có những mặc cảm bị bỏ rơi, bị xa lánh.

Sự giúp đỡ của tập thể lớp cũng rất quan trọng. Chẳng hạn: khi trẻ học kém ta có thể giao cho tổ trưởng kiểm tra, giảng bài cho em đó hiểu. Qua đó trẻ nhận thấy mình được mọi người quan tâm và bản thân phải có trách nhiệm với mọi người qua đó ta có thể khơi gợi tính làm chủ tập thể cho trẻ.

Bên cạnh đó, chúng ta phải biết phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong nhà trường cùng giúp đỡ và giáo dục các em.

Thực tế trong năm học: 2012-2013 có em Nguyễn Long Hưng là học sinh lớp 5A do bản thân chủ nhiệm. Hưng là một học sinh quậy phá, lười học và có một hoàn cảnh rất khó khăn. Đầu năm, chỉ mới một tháng đến lớp, Hưng đã gây biết bao chuyện phiền hà, hết chọc phá lại gây chuyện đánh nhau với bạn. Em cũng thường xuyên bỏ học, đến lớp thì chẳng chịu nghe giảng, chẳng chịu làm bài. Một hôm đến lớp, vở chính tả của Hưng toàn là nét chữ nguệch ngoạc, nghiêng ngả. Bản thân có hỏi Hưng chỉ trả lời “bố viết”. Trong giờ học, Hưng chẳng chịu nghe giảng, mà chỉ lo tìm cách chọc ghẹo bạn. Có lần em tìm ra trò nghịch phá rất tai quái. Hôm ấy cả lớp đang chú ý nghe cô giảng bài, bỗng trong lớp có tiếng khóc thét lên. Bản thân giật mình quay về phía tiếng khóc thì chẳng thấy Hưng đâu, bản thân vội xuống bàn Hưng thì thấy em đang loay hoay dưới gầm bàn, tay cầm cây thước ê-ke nhựa có đầu nhọn, nét mặt hả hê lắm. Hỏi ra mới biết Hưng dùng đầu nhọn đâm vào chân bạn.

Tính tình Hưng rất nóng nảy, chơi với bạn Hưng hay thường bắt nạt bạn. Khi Hưng tức giận hay không vừa ý điều gì đó, thì tỏ ra rất ngỗ ngược, chửi lại bạn bằng những lời lẽ thô tục, làm các bạn xa lánh, không muốn chơi với Hưng. Hưngcòn rất bướng bỉnh, ăn nói thì cộc lốc có khi đến mức vô lễ. Mỗi lần Hưngcó lỗi bản thân có trách phạt Hưng cũng tỏ ra bình thường thản nhiên, đôi lúc còn tỏ vẻ thách thức chẳng có gì lộ vẻ sơ hãi cả. Làm việc gì Hưng cũng tỏ ra chậm chạp, tập vở dơ và rách cả bìa, Hưng đọc rất chậm, chính vì thế khi viết chính tả bao giờ cũng bị điểm kém.

Thấy vậy, bản thân băn khoăn lắm đã tìm hiểu hoàn cảnh của Hưng để có biện pháp giúp đỡ. Qua tìm hiểu bản thân biết gia đình Hưng rất khó khăn, mẹ thì bỏ đi. Bố Hưng đi bước nữa và hàng ngày phải làm mướn kiếm tiền lo từng bữa cơm trong gia đình. Đã vậy, ngày nào về đến nhà cũng nồng nặc mùi rượu, say xỉn lè nhè, quậy phá, chửi con bằng những lời lẽ thô tục. Hôm nào nhậu về thấy vui thì ông lấy vở của Hưng ra ngồi viết hoặc làm toán dùm, hôm nào không thấy vui thì đánh đập, chửi mắng bắt Hưng nghỉ học, không cho đi học nữa vì ông quan niệm “học nhiều cũng vô ích” chính điều ấy vô tình làm Hưng chán nản và cũng chính môi trường như thế đã tạo cho Hưng một tính cách ngỗ ngược, ít hoà đồng, lười học và chẳng biết sợ ai.

Sau khi tìm hiểu về hoàn cảnh của em Hưng bản thân đã đưa ra biện pháp nhằm giúp Hưng tiến bộ.

Trước hết bản thân đến gặp phụ huynh em Hưng, khuyên bố Hưng cố gắng tạo điều kiện tốt để Hưng đến trường. Bản thân giải thích cho ông hiểu “Trong điều kiện xã hội hiện nay, việc học rất cần thiết, chỉ có đi học sau này Hưng mới tương lai vững bền nếu anh không muốn con mình nối nghiệp cha đi làm mướn”. Sự kiên trì nhẫn nại của bản thân đã làm ông dần dần thay đổi. Thêm vào đó, biết gia đình em khó khăn, bản thân đã tạo mọi điều kiện tốt cho em học tập, bản thân đã cố gắng hỗ trợ em về mặt vật chất cũng như tinh thần, hằng ngày bản thân bỏ riêng một giờ để kèm riêng cho em, để giúp em khắc phục được những mặt còn yếu của em như rèn đọc, chính tả và làm toán. Chính sự quan tâm ân cần của bản thân đã tạo cho Hưngmột chỗ dựa vững chắc về tinh thần, Hưng cảm thấy mình còn có người yêu thương, dìu dắt. Từ đó Hưng học chăm hơn. Để động viên em, bản thân dùng các hình thức để khen thưởng động viên em. Những lúc em quậy phá đánh bạn, bản thân không la mắng đánh đòn mà chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo. Trong ứng xử, bản thân còn dạy em cách ăn nói, cách ứng xử với bạn bè và em đã có nhiều tiến bộ, nói năng lễ phép, biết vâng lời thầy cô hoà đồng với bạn trong lớp. Bản thân luôn tuyên dương em có những cố gắng, và động viên bằng những món quà nhỏ như: tập, bút… Việc làm này không những giúp Hưng mau tiến bộ mà còn tạo một phong trào thi đua học tập trong lớp. Ngoài ra, bản thân còn kết hợp với các ban ngành trong nhà trường để giúp đỡ Hưng như cho những phần quà, miễn giảm tiền học phí cho em,…Từ những việc làm đó giúp Hưng tự tin hơn, chăm học hơn và thành quả đạt được là trong kì thi cuối năm các môn thi em đều đạt trên trung bình. Hưng đã được lên lớp 6 như các bạn. Hôm chia tay cuối năm, em hứa với cô và các bạn sẽ cố gắng học tốt hơn trong năm học tới.

4.2 Biện pháp giáo dục đối với học sinh do môi trường học tập

Cần tạo mọi điều kiện tốt để trẻ được học tập trong môi trường lành mạnh.

Khi nhận lớp, cần phải tìm hiểu kĩ hoàn cảnh gia đình cũng như tâm sinh lí của từng em để từ đó có cách tổ chức lớp học sao cho phù hợp. Cụ thể: Nếu giáo viên nắm được rằng lớp mình có những học sinh nào yếu kém hay nghịch phá… để giáo viên quan tâm đến em đó hơn. Có thể là cho ngồi bàn đầu hay là ngồi gần những bạn học giỏi để được nhắc nhở thường xuyên.

Giáo viên cũng phải nhiệt tình, tận tâm với công việc của mình. Phải đi sâu đi sát, quan tâm đến các em, để từ đó có cách giảng dạy sao cho phù hợp với nhận thức của mỗi học sinh.

Điều quan trọng chúng ta nên xoá bỏ những mặc cảm của trẻ kể cả hai mặt: Những em mặc cảm tự tôn: è Giáo viên cần phải làm cho trẻ nhận thấy khả năng đích thực của trẻ là gì?

Những em mặc cảm tự ti: è Đối với trẻ có mặc cảm tự ti chúng ta cần động viên khen thưởng ngay trước tập thể lớp, khích lệ khi trẻ làm tốt một việc dù rất nhỏ, dần dần trẻ cảm thấy tự tin ở bản thân, qua những lời đánh giá khen thưởng của giáo viên.

Trong năm học ……………. với sĩ số là 35 học sinh tương đối đông điều đó cũng ảnh hưởng việc học tập của các em. Trong lớp, có em Ung Quốc Anh là một học sinh lớp 5A do bản thân chủ nhiệm. Em rất quậy phá, học khá, đến lớp hay chọc ghẹo bạn bè… ngày nào đến lớp bản thân cũng nghe chuyện thưa gửi về những thành tích “nổi cộm” của Anh. Hết chọc phá bạn bè, rồi lại chơi nặng tay đánh bạn bè, giấu đồ của bạn. Tính tình Anh rất hiếu động. Trong một tiết học, Anh không thể ngồi im lặng chú ý nghe giảng như các bạn khác được. Không quay ngang, quay ngửa thì cũng dùng tay mân mê hộp bút để trên bàn, lúc thì mở ra đóng vào liên tục, lúc thì cầm lên xoay ngang rồi lại xoay dọc, hết ngắm mặt trên rồi lại ngắm mặt dưới. Bản thân đã phạt Anhvà bắt em cất hộp bút đi, tưởng như thế thì Anh sẽ ngồi im lặng và chú ý học hơn. Nhưng ngược lại Anh không ngồi yên mà còn quay sang bên cạnh, hết vuốt tóc bạn lại quay ngang khoác vai, ôm cổ bạn nói chuyện và làm cho bạn nói theo, không chú ý đến việc học. Anh cũng rất hay tò mò, thấy bạn có món đồ gì mới cũng tìm mọi cách lấy xem cho bằng được, khiến trong lớp có nhiều chuyện thưa gửi đã khiến bản thân trăn trở rất nhiều. Bản thân đã tìm hiểu lý lịch của Tài thì thấy về mặt tâm lý của em phát triển bình thường, em ở với cậu mợ và cậu mợ em rất quan tâm đến việc học em.

Với tính hiếu động hay lơ là trong giờ học bản thân dùng biện pháp nhắc nhở và thường gọi Tài phát biểu nhằm giúp em chú ý bài hơn. Khi làm bài, bản thân cho Anh lên bàn giáo viên để theo dõi. Từ việc hay gọi Anh phát biểu và theo dõi em, bản thân phát hiện Anh rất nhạy bén và có trí nhớ tốt, bản thân cũng nhận ra rằng việc cho Anh ngồi trên bàn giáo viên để theo dõi không phải là một biện pháp tích cực nên bản thân xếp Anh ngồi gần một học sinh giỏi ngoan để cùng giúp đỡ em học tốt. Những lúc Anh “chán học, lơ là” bản thân thường động viên nhắc nhở em. Ngoài giờ học, bản thân tìm cách gần gũi Tài và khuyên nhủ phân tích rõ hơn để Anh hiểu việc học rất cần thiết.

Bản thân luôn động viên Anh cố gắng học tập, chú ý nghe giảng, điều gì không hiểu cứ mạnh dạn hỏi để cô giáo giảng lại. Lúc đầu việc uốn nắn Anh cũng khó khăn lắm và ý thức sửa đổi của em chưa cao. Nhưng cứ nhiều lần khuyên bảo sửa chữa với những lời nói dịu dàng của bản thân đã giúp em cảm nhận được tình cảm của cô giáo đối với em và em đã dần thay đổi. Trong các tiết học Anh chú ý nghe giảng bài hơn. Em mạnh dạn và tích cực xây dựng phát biểu bài. Mỗi khi Tài trả lời đúng bản thân khen ngợi và tuyên dương em trước lớp.

Ngoài những việc làm trên lớp, bản thân kết hợp với gia đình Anh rất chặt chẽ. Những công việc bản thân giao về nhà gia đình phải kiểm tra đôn đốc em giúp em hoàn thành tốt. Nhờ sự quan tâm của bản thân và các bạn trong lớp Anh đã tiến bộ rõ rệt và không còn lơ là nữa. Cuối năm đó món quà Tài dành cho cô giáo là danh hiệu học sinh tiên tiến mà em đã đạt bằng tất cả sự cố gắng của em.

4.3 Biện pháp giáo dục đối với học sinh do môi trường xã hội

Nâng cao nhận thức cho mọi thành viên và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục học sinh nói riêng và thế hệ trẻ nói chung.

Hội cha mẹ học sinh, hội khuyến học, hội phụ nữ,… phải sẵn sàng hợp tác, tham mưu và cùng nhà trường giáo dục học sinh (tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm giáo dục học sinh để nghe các gia đình có con em học giỏi chăm ngoan báo cáo cách giáo dục con cái, đề xuất các biện pháp giúp gia đình có con còn yếu kém trong học tập và rèn luyện đạo đức có biện pháp giáo dục con tốt hơn, cùng nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ học sinh nghèo vượt khó…)

Phát hiện, ngăn chặn kịp thời những nhóm trẻ hay những người có lối sống thiếu lành mạnh lôi kéo học sinh vào các hành động phản giáo dục, triệt phá kịp thời các video đen, sách báo đồi truỵ, các điểm tổ chức trò chơi thiếu lành mạnh trên địa bàn.

Phân công các thành viên có uy tính đại diện cho các hội gần gũi chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ các gia đình có con cái học yếu, kém, chưa ngoan, bàn biện pháp giáo dục và cùng giáo dục các con em.

Liên hệ nhắc nhở các phụ huynh cần quan tâm nhắc nhở đến việc đọc sách và xem phim video của con cái. Cần phải được kiểm tra có nội dung phù hợp và có ích cho trẻ lứa tuổi thiếu niên nhi đồng.

Cụ thể năm học …………. có em Phạm Thanh Ngọc là học sinh lớp 5A do bản thân đang chủ nhiệm. Đến lớp, Ngọc luôn nghịch ngợm, phá phách không ai bằng lại thêm cái tính ương ngạnh. Trong đám bạn học Ngọc luôn tỏ ra là một bậc “đàn anh” bởi Ngọc có vóc dáng to cao hơn những đứa bạn cùng lớp. Ngọc bướng bỉnh lắm, thường bắt những đứa bạn cùng lớp gọi mình bằng “anh” nếu không Ngọc nghỉ chơi, khi có bạn nào lỡ gây lỗi với Ngọc thì Ngọc đánh cho một trận đáng đời. Trong học tập Ngọc chưa chăm học, chưa tích cực phát biểu xây dựng bài, lâu lâu em đưa ra những câu hỏi “ngớ ngẩn” không ăn khớp với nội dung bài học vì em ít chú ý đến bài giảng của cô.

Ngọc rất thích được cô giao nhiệm vụ và rất muốn các bạn trong lớp thấy mình có uy tín và rất thích được cô giáo khen. Qua tìm hiểu bản thân được biết về mặt tâm sinh lý Ngọc phát triển bình thường ngay từ bé. Gia đình Ngọc không phải là nghèo khó như các bạn khác, cha mẹ chỉ lo kiếm tiền ít quan tâm đến việc giáo dục con cái. Mặt khác em thường xem phim ảnh nhiều nên ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách thích là “người hùng”… Tất cả những điều đó cũng chính là nguyên nhân hình thành tính cách của em.

Bản thân đã gặp phụ huynh và khuyên phụ huynh em nên quan tâm đến con cái hơn và nên kiểm tra nội dung phim ảnh, sách báo trước khi cho con xem hoặc đọc. Hằng ngày bản thân thông báo và liên hệ với phụ huynh qua một quyển vở để phụ huynh nắm tình hình học tập của Ngọc .Với tính nóng nảy của Ngọc bản thân không dùng hình thức roi vọt vì nó sẽ làm phản tác dụng giáo dục. Bản thân tìm cách khuyên bảo nhẹ nhàng, dùng lời lẽ ân cần dịu dàng để giải thích cho Ngọc hiểu tác hại của sự nóng nảy.

Với cá tính thích làm “thủ lĩnh” và thích được giao nhiệm vụ, bản thân giao cho Ngọc chức vụ “lớp phó kỷ luật”. Có nhiệm vụ nhắc nhở đôn đốc các bạn trong lớp. Muốn thế bản thân em phải thật nghiêm túc làm gương cho các bạn noi theo. Song song, bản thân cũng giải thích để Ngọc hiểu đánh bạn là việc làm không đúng, nếu có vấn đề gì thì phải thưa với cô giáo để cô giáo giải quyết chứ không nên đánh bạn, sẽ làm bạn xa lánh không nghe theo hướng dẫn của mình và như thế em sẽ khó quản lý lớp tốt được.

Ngọc rất thích được khen, do đó bản thân luôn dùng hình thức khen ngợi, động viên khi Ngọc làm tốt công việc được giao. Bên cạnh đó, bản thân cũng phải tỏ ra nghiêm khắc, phê bình ngay khi Ngọc chưa tốt.

Với tình thương chân thành của bản thân đã dần dần cảm hoá Ngọc, em càng ngày càng tiến bộ hơn trong học tập và công tác của mình. Ngọc luôn thực hiện tốt và tỏ ra là một người có trách nhiệm nên được các bạn trong lớp yêu thương và rất khâm phục. Đặc biệt, trong đợt thi học kì 1 vừa qua, các môn thi em đều đạt điểm khá trở lên. Đây là nguồn động viên rất lớn của em vì từ trước dến nay em học lực trung bình. Em hứa với cô giáo và cả lớp sẽ cố gắng học tốt hơn nữa để cuối năm đạt được học sinh tiên tiến như em hằng mong ước.

4.4 Biện pháp giáo dục đối với học sinh do tâm sinh lí

Đối với những trẻ hiếu động cần quan tâm, động viên, nhắc nhở, uốn nắn các em thường xuyên. Những trẻ này trong công việc thường rất năng động nhưng hấp tấp do đó ta nên giao công việc cho trẻ song đó phải kiểm nhắc nhở thường xuyên.

Đối với những trẻ này các em thường có mặc cảm, thường xa cách, ít hoà đồng với mọi người xung quanh. Vì vậy chúng ta cần quan tâm đến trẻ nhiều hơn. Trò chuyện với chúng chân tình cởi mở, tạo điều kiện cho chúng hoà đồng vào tập thể lớp để chúng thấy được sự quan tâm của mọi người và từ đó xoá đi những mặc cảm của bản thân.

Năm học 2012 – 2013 có em Trần Mai Bảo Ngọc là học sinh lớp 5A do bản thân chủ nhiệm. Ngọc là học sinh yếu trong lớp. Vào lớp, em thích thì chép bài không thích thì ngồi chơi, bài vở thích thì làm không thích thì để giấy trắng cả bài. Qua tìm hiểu, do sinh vào cuối năm và bị suy dinh dưỡng từ nhỏ nên các em bé hơn các bạn trong lớp. Các bạn trong lớp hay trêu chọc hai em vì các em nhỏ con và mỗi khi bị điểm kém làm hai em càng lười học, không giao tiếp với các bạn. Bản thân dùng biện pháp để khắc phục tình trạng trên như sau

Trong giờ sinh hoạt lớp, bản thân thường nhắc nhở cả lớp: bạn bè phải yêu thương giúp đỡ nhau không được trêu chọc, phải giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Bản thân đã phân công em Thanh là học sinh học giỏi, gần nhà em lên ngồi gần Ngọc có trách nhiệm kiểm tra và nhắc nhở các bạn làm bài. Khi làm bài, bản thân thường gọi Ngọc lên bảng và hướng dẫn hai em hoàn thành bài làm. Bản thân luôn khen hai em và cho các bạn vỗ tay động viên. Bản thân làm như vậy để khuyến khích hai em, để các em nhận thấy cô giáo và các bạn luôn quan tâm đến các em. Lúc đầu, hai em vẫn còn thái độ lầm lì nhưng càng về sau các em đã hoà nhập với tập thể, có thái độ thân thiện với thầy cô và các bạn, học tập tự giác và có kết quả tốt hơn. Cuối năm đó, em Ngọc đã tiến bộ rõ rệt, các môn thi em đều đạt từ trung bình trở lên.

Trong năm học này, năm học ………….. có em Nguyễn Ngọc Anh là học sinh lớp 5A do bản thân chủ nhiệm. Anh là một học sinh có cá tính. Bắt đầu vào lớp là em bày ra đủ trò: chọc ghẹo bạn gái trong lớp đến phát khóc, trong giờ học thì ít phát biểu ý kiến nhưng nói năng tự do. Sách vở thì không biết giữ gìn. Cuốn nào cũng mất bìa và quăn mép. Đồ dùng học tập thì hay phá cho hư. Mới hơn một tháng mà em phải mua đến ba cái bút mực, không kể đến bút chì, thước kẻ gẫy và hư liên tục. Trong một tuần học, em bị vi phạm lỗi để sao đỏ ghi vào sổ trên năm lần. Nào là đi trễ, quên khăn quàng, măng non, không sinh hoạt 15 phút đầu giờ, không bỏ áo vào quần,…Hình như tuần nào em cũng vi phạm lỗi như vậy. Ngày nào bước vào lớp là bạn lớp trưởng báo những thành tích “quậy” dày cộm của Anh. Qua nhắc nhở và la mắng nhiều lần nhưng em vẫn không tiến bộ. Bản thân đã tìm hiểu hoàn cảnh của em được biết bố mẹ em đã li dị nhau và ai cũng đi bước nữa chỉ lo cho cuộc sống của gia đình mới mà bỏ mặc em. Em phải sống với bà nội đã già nhưng rất mực cưng cháu. Bà nghĩ hoàn cảnh cháu đáng thương nên đã dành hết tình thương của mình cho cháu. Bên cạnh đó, bản thân nhận thấy tính tình của em không được bình thường,…Từ những lí do đó, bản thân đã cố gắng tìm ra biện pháp để giúp đỡ em. Bản thân thường liên lạc với bà nội em để nhắc nhở bà giáo dục em và không cưng chiều cháu quá mức. Mặt khác ở trên lớp, thay vì la mắng, trách phạt em khi mắc lỗi, không chịu học thì bản thân luôn động viên em, thường xuyên gọi em phát biểu, lên bảng làm bài tập và khen ngợi em trước lớp mỗi lần em trả lời hoặc làm bài đúng. Bản thân đã mượn những bộ sách vở của các bạn trong lớp đến làm mẫu cho em xem,…Từ những biện pháp trên, em đã dần tiếp thu và sửa đổi rất nhiều. Em đã ngoan hơn và có ý thức trong học tập hơn.

Tóm lại:

Để giúp đỡ “học sinh cá biệt” vươn lên trong học tập cho dù bất cứ nguyên nhân nào? Chúng ta có thể dùng các biện pháp sau:

Thứ nhất: Chúng ta nên tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh đó như là thu nhập hàng ngày của gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như thế nào? Có êm ấm hạnh phúc hay không? Có nhiều thành kiến gây ra xào xáo bất đồng… mục đích là để hiểu rõ học sinh này.

Thứ hai: Nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với “học sinh cá biệt” này, nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt ngược trở lại về phía học sinh. Tuy nhiên cũng có đôi lúc ta cũng phải cứng rắn, chẳng hạn trong vấn đề xử phạt “ mềm nắn, rắn buông”.

Thứ ba: Giáo viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên học sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học sinh nhìn mình là cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị mắng. Như vậy học sinh sẽ có tâm lý bất cần “thầy cô kệ thầy cô, ta là ta”. Ta phải làm sao tạo cho học sinh có cảm giác là giáo viên như là một người bạn thân, bạn tâm tình, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mình, khi mình vui, buồn đều có thể chia sẻ với thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn trong gia đình, bế tắc trong học tập.

Thứ tư: Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những việc mà học sinh hỏi, tránh để học sinh cảm thấy mình lạc lõng, cảm giác vì mình học dở nên không ai quan tâm, ai cũng khi dễ mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình.

Thứ năm: Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn phải thức sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài tập hơn các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục. Bởi vì đấy là những “học sinh cá biệt”, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được “lãnh lương” hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân ở nhà.

Thứ sáu: Chúng ta phải tác động vào động cơ học tập, để các em này thấy rõ tầm quan trọng của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học – chỉ mới mấy tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt.

Thứ bảy: Giáo viên luôn động viên, khen thưởng học sinh kịp thời khi các em có những hành vi tốt. Nghiêm khắc nhưng không quá khắt khe khi các em có những biểu hiện chưa ngoan.

Như vậy, theo tôi biện pháp chung nhất đó là làm sao phải tìm ra cho được nguyên nhân chính, phải tìm hiểu xem học sinh cá biệt mặt gì? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó? Thường xuyên trao đổi trò chuyện với học sinh nhằm tạo ra tình cảm gắn bó giữa thầy và trò. Khi đã rõ mọi ngọn nguồn làm học sinh đó chậm tiến thì gặp các tình huống dù tiêu cực, dù phức tạp đến đâu. Nhưng với cách xử lý khéo léo, với tấm lòng thiện cảm, tôn trọng, tin yêu học sinh thì công việc giáo dục của chúng ta dần dần sẽ hiệu quả.

Việc giáo dục cũng chỉ thành công khi giáo viên chúng ta biết tìm cách tạo ra xung quanh học sinh đó một môi trường sư phạm tốt đẹp, tạo điều kiện cho học sinh đó được học tập rèn luyện trong một tập thể lớp tiến bộ, có tinh thần tự quản cao, có ý thức giúp nhau cùng tiến bộ với sự cảm thông và tin yêu chân thành. Song song đó giữa giáo viên chủ nhiệm và gia đình phải tạo ra được mối quan hệ sư phạm thống nhất cùng góp phần giáo dục học sinh cá biệt đó.

Giáo dục học sinh cá biệt là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm. Đó không chỉ là nhiệm vụ trong một năm học, một cấp học mà là thiên chức đối với một đời người – một thế hệ.

PHẦN III: KẾT LUẬN

1. Kết quả đạt được:

Nhờ áp dụng các biện pháp trên mà các em “học sinh cá biệt” trong lớp của bản thân chủ nhiệm trong ba năm có tiến bộ rõ rệt về hạnh kiểm cũng như học lực. cụ thể:

Năm học

Tên HS cá biệt

Đầu năm

Cuối năm

Học lực yếu, lười học không giao tiếp với các bạn.

Hoà nhập với tập thể, thân thiện với thầy cô, bạn bè, học tập tự giác. Học sinh tiên tiến.

Hay lơ là trong giờ học.

Chú ý nghe giảng và phát biểu xây dựng

bài.

Năm học

Tên HS cá biệt

Đầu năm

Cuối học kì 1

Hay quậy phá, chọc ghẹo bạn, không tập trung trong giờ học, gây mất trật tự trong giờ học.

Chú ý nghe giảng, không lơ là nữa mà tích cực phát biểu xây dựng bài.

Nghịch ngợm, phá phách, ương ngạnh tỏ vẻ đàn anh hay đánh bạn.

Ngoan, là một lớp phó kỷ luật có trách nhiệm và được các bạn trong lớp yêu thương, khâm phục.

* Kết quả: Lớp chủ nhiệm trong 2 năm

Năm học

Lớp

Tổng

số

HS

Xếp loại Hạnh kiểm

Lên lớp thẳng

Thực hiện

đầy đủ

Thực hiện chưa đầy đủ

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

…………….

……..(HKI)

Kinh nghiệm trên đã áp dụng, làm cho học sinh cá biệt giảm dần, học sinh ngoan và chăm học ngày càng tăng lên. Trong hai năm qua không có em nào bị kỉ luật và tỉ lệ lên lớp đạt chỉ tiêu.

Nhìn lại kết quả trên cho thấy, trong 2 năm qua, học sinh trong lớp chủ nhiệm cũng như trong khối phụ trách về xếp loại hạnh kiểm: 100% học sinh đạt loại thực hiện đầy đủ 5 nhiệm vụ của người học sinh. Về xếp loại giáo dục: năm học ………, học sinh lên lớp thẳng 100% không có em nào phải thi lại và ở lại lớp. Học sinh khá, giỏi vượt chỉ tiêu đã đề ra. Riêng năm học ………….., tới thời điểm bây giờ chưa xếp loại giáo dục nhưng qua đợt thi học kì 1 vừa rồi, các môn thi: Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, điểm thi của các em đều đạt điểm trên trung bình và điểm khá, giỏi các môn đạt chỉ tiêu của học kì 1.

Như vậy, với kết quả đạt được chứng tỏ phần nào sáng kiến của bản thân đưa ra và áp dụng có hiệu quả trong lớp. Thiết nghĩ, mỗi giáo viên trong trường đều áp dụng sáng kiến này trong công tác chủ nhiệm của mình thì trường học sẽ không còn “học sinh cá biệt” nữa.

2. Bài học kinh nghiệm:

Giáo dục “học sinh cá biệt” là một nhiệm vụ vô cùng gian khó, khó thành công trong một thời gian ngắn. Nó đòi hỏi một quá trình dài lâu, có sự gắn kết, thật sự trách nhiệm của các giáo viên chủ nhiệm từ cấp dưới đến cấp trên, cùng sự quan tâm chia sẻ thường xuyên từ phía phụ huynh, gia đình.

Việc giáo dục “học sinh cá biệt” quả là một vấn đề phức tạp, nó đã và đang là điều trăn trở không phải của riêng bản thân mà của nhiều giáo viên chủ nhiệm hiện nay. Để giáo dục tốt “học sinh cá biệt” rõ ràng đòi hỏi ở giáo viên phải có năng lực sư phạm.

Năng lực sư phạm không chỉ đơn thuần là giỏi về giảng dạy, tổ chức lớp học có kỉ cương, nề nếp mà còn phải giỏi làm sao xây dựng được tình nghĩa gắn bó giữa thầy và trò. Ông cha ta từ xưa cũng thường bảo “dạy dỗ” để nói đến việc giáo dục một con người .“Dạy” là cung cấp nội dung, “dỗ” là cách đối xử với con người, làm sao gây thiện cảm, tạo ra hứng thú, phát huy tiềm năng của học sinh hơn là áp đặt ý muốn chủ quan của thầy. Chính vì thế muốn dạy trẻ trước hết phải hiểu trẻ, yêu thương và tôn trọng trẻ. Người giáo viên tiểu học phải là người giỏi về tâm lý trẻ thơ. Từ đó mới khám phá ra tâm hồn của trẻ để giáo dục trẻ cho tốt. Khi đã tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp, với trách nhiệm lương tâm cao cả thì mọi giáo viên chủ nhiệm chúng ta đều có thể tìm ra con đường đi tới niềm vui trong giáo dục học sinh cá biệt. Đúng như MAKARENCÔ nhà giáo dục Nga đã khẳng định “Không sợ học sinh hỏng mà chỉ sợ phương pháp giảng hỏng”, không có học sinh nào muốn mình hư, em nào cũng muốn mình là học sinh ngoan, học giỏi và được bố mẹ thầy cô khen ngợi. Bác Hồ của chúng ta đã thường nói: “Bản chất con người là tốt đẹp”. Là giáo viên chúng ta hãy đến với trẻ với tất cả tấm lòng, trái tim người thầy chắc chắn chúng ta cũng gặt hái được kết quả trong giáo dục.

Về phía nhà trường, để làm tốt công tác giáo dục “học sinh cá biệt”, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận, giữa các thầy cô. Vai trò của thầy cô chủ nhiệm là rất quan trọng. Trong lớp, thầy cô chủ nhiệm như là cha mẹ của các em, có tiếng nói điều chỉnh kịp thời các hành vi chưa đúng của các em, là tấm gương cho các em noi theo.

Thầy cô giáo dục các em không chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động, cử chỉ, thái độ, tác phong hàng ngày… Hãy cảm hóa, giáo dục các em bằng cả tấm lòng của người thầy, người cha, người chị, người mẹ… Hãy nhìn các em với ánh mắt nhìn về tương lai, không nên dựa vào các hành vi nhất thời của các em mà đánh giá cả bản chất con người các em.

Giáo dục “học sinh cá biệt” không chỉ là trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm mà đòi hỏi toàn xã hội, các ban ngành đoàn thể trong trường, trong địa phương, phối kết hợp với gia đình cùng chung tay chung sức giúp đỡ các em.

Trên đây là một số biện pháp để giúp đỡ học sinh cá biệt vươn lên trong học tập. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, của Ban giám hiệu nhà trường và của cấp trên để sáng kiến được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

………, ngày ……tháng ……..năm …………

Người viết

Mời các bạn tham khảo các bài khác trong phần Dành cho giáo viên của mục Tài liệu.

0 ( 0 bình chọn )

Thi Quốc Gia Thi THPT Quốc Gia 2021 của nhà xuất bản Giáo Dục Việt nam

https://thiquocgia.vn
Tổng hợp tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia 2020 - 2021, Thi tốt nghiệp, Tài liệu luyện thi

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm