Dành cho giáo viênTài liệu

Top 5 Bài thuyết trình dự thi giáo viên chủ nhiệm giỏi

Bài thuyết trình thi giáo viên giỏi
134

Bài thuyết trình thi giáo viên giỏi

Thi giáo viên giỏi là hoạt động diễn ra thường niên ở các trường. Top 5 Bài thuyết trình dự thi giáo viên chủ nhiệm giỏi mà Hoatieu.vn giới thiệu sau đây sẽ giúp giáo viên chuẩn bị tốt nhất cho hội thi giáo viên giỏi.

1. Bài thuyết trình thi giáo viên chủ nhiệm giỏi Tiểu học số 1

Kính thưa ban giám khảo, các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường

Lời đầu tiên cho phép tôi được kính chúc các quý vị đại biểu, khách quý mạnh khoẻ hạnh phúc. Chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. Chúc Hội thi …của trường chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa ban giám khảo!

Là người giáo viên dạy Tiểu học, hầu như chịu hoàn toàn trách nhiệm về lớp mình phụ trách, trực tiếp giảng dạy các môn học, đồng thời tổ chức, hướng dẫn tất cả các hoạt động giáo dục. Trong những giờ tới trường giáo viên chủ nhiệm lúc nào cũng ở cạnh các em, là người “mẹ thứ hai” của các em, luôn gần gũi, dõi theo mọi hành động, hành vi của từng em trong lớp. Học sinh tiểu học còn chưa biết hành động độc lập, giáo viên phải là người tổ chức các hoạt động, làm sao cho từng em học sinh có được công việc thích hợp và bộc lộ được khả năng của mình. Mở rộng và khơi sâu trí thức, rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức tự giác và ứng xử, thỏa mãn nhu cầu, kích thích sự hứng thú, phát triển năng lực của học sinh. Trong mắt các em, giáo viên chủ nhiệm là “Thần tượng”, là người mà các em tin tưởng tuyệt đối nhất, cô giáo nói gì các em cũng nghe, vâng lời cô giáo là cái duy nhất có ở tất cả các em học sinh. Chính vì thế mà người giáo viên chủ nhiệm phải chú trọng từng lời nói, hành động, việc làm chuẩn mực nhất trước học sinh, là tấm gương sáng để các em noi theo. Qua công tác chủ nhiệm, người giáo viên tiểu học góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho các em, giúp các em trở thành người có ích cho xã hội, gia đình và bản thân, để các em trưởng thành, lớn lên, vững vàng bước vào đời.

II. THỰC TRẠNG:

1.Thuận lợi, khó khăn:

1.1. Thuận lợi:

– Năm học …….. tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4B. Với tổng số: 22; nữ: 14; Dân tộc: 1; Khuyết tật: 1. Số lượng học sinh không đông, dân tộc chiếm ít, việc quản lý, giáo dục các em tương đối thuận lợi.

– Lớp được học 2 buổi/ngày, Toán được ôn tập 3 tiết/tuần, tiếng Việt 2 tiết/tuần. Nên có thời gian ổn định để kèm cặp các em yếu.

– Các em phần đông được gia đình quan tâm, trang bị tương đối đầy đủ về trang phục, đồ dùng học tập, sách giáo khoa,….

– Mặt khác phòng học khang trang, thoáng mát, cơ sở vật chất đầy đủ.

– Hầu hết các em đều cố gắng học tập, biết vâng lời, lễ phép với cô giáo.

1.2. Khó khăn:

– Địa bàn thuần nông, thời gian đi làm là nhiều, ít có thời gian dành cho sự dạy dỗ, chỉ bảo cho con cái.

– Lớp có 3 em thuộc hộ cận nghèo và một số em gia đình kinh tế còn khó khăn nên ảnh hưởng đến cuộc sống của các em, sự chăm lo về mọi mặt không được đầy đủ, chu đáo. Có 6 em nhà ở xa trường, việc đi lại tốn nhiều thời gian, đi suốt đoạn đường xa, mệt mỏi nên ảnh hưởng tới sức khỏe khi các em đến lớp.

– Mặt khác trí tuệ các em không đồng đều, khả năng nhận thức (tiếp thu) cũng không đồng đều. Có một số em không chú ý, không có thái độ tích cực học, mà đến lớp như một thói quen, với thái độ lơ đễnh. Khi cô giáo giảng xong, hỏi lại là không biết gì, chính vì vậy những em đó thường hay tự ti, mặc cảm, sợ sệt, nhút nhát, chưa biết thể hiện mình.

– Đa số vốn giao tiếp của các em rất hạn chế, lời nói chưa được to, rõ ràng, hay có kiểu nói rất nhỏ, nói lắp bắp, không thể nghe được.

III. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:

1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.

Bản thân tôi cảm thấy công tác chủ nhiệm vô cùng nan giải. Nó có vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo một em học sinh ở lứa tuổi tiểu học, là nền móng để cho các em lớn lên và trưởng thành, là một người có năng lực và phẩm chất đạo đức chuẩn mực. Vì vậy mục đích các biện pháp, giải pháp của đề tài này là muốn nâng cao chất lượng học tập, rèn ý thức tự giác, tự quản, rèn các kĩ năng sống, giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức cho các em học sinh tiểu học nói chung và các em học sinh của lớp mình đang chủ nhiệm nói riêng. Sao cho cuối năm đạt kết quả cao trong mọi lĩnh vực.

2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

2.1. Nội dung: Các biện pháp, giải pháp để làm tốt công tác chủ nhiệm thì rất nhiều và đa dạng, nhưng bản thân tôi xin được đúc kết lại với các nội dung chính, quan trọng nhất, cụ thể như sau:

– Triển khai công tác xây dựng nề nếp đầu năm.

– Xây dựng “Lớp học thân thiện, học sinh tích cực”

– Một số phương pháp giúp các em học tốt ở lớp và ở nhà.

– Phối kết hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu, Đội và các giáo viên bộ môn.

2.2. Cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

2.2.1. Triển khai công tác xây dựng nề nếp đầu năm: Công tác xây dựng nề nếp lớp học là nhiệm vụ hàng đầu của một giáo viên chủ nhiệm, muốn làm tốt công tác chủ nhiệm, người giáo viên cần phải đưa tập thể lớp đi vào nề nếp ngay từ đầu năm, thì lớp học đó mới đạt được nhiều thành tích trong suốt năm học. Để làm tốt công tác xây dựng nề nếp của lớp, tôi hướng tới thực hiện những việc làm sau:

a) Nắm thông tin học sinh: Việc nắm các thông tin của học sinh đầu năm là rất cần thiết. Có được thông tin học sinh giúp cho giáo viên chủ nhiệm phục vụ cho việc ghi chép hồ sơ giáo viên, nắm được hoàn cảnh gia đình, lực học của năm trước, việc liên lạc với gia đình các em,…Vì thế ngay từ đầu năm, tôi đã làm Phiếu ghi thông tin học sinh, phát cho từng em, hướng dẫn các em ghi đầy đủ, rõ ràng, sau đó thu lại để phục vụ cho công tác chủ nhiệm lớp của mình.

b) Xử lý thông tin:

Sau khi thu phiếu điều tra, tôi đã có đầy đủ các thông tin của học sinh, phục vụ cho những việc sau:+ Ghi chép vào hồ sơ: Tôi đã ghi chép đầy đủ thông tin cần thiết vào sổ theo dõi chất lượng, sổ chủ nhiệm, sổ liên lạc với gia đình học sinh,…Cập nhật phần mềm smax 3.0 (Quản lý học sinh).

+ Xếp chỗ ngồi học sinh: Tôi dựa vào kết quả học lực của các em, phần nào nắm được những em học khá, giỏi và yếu kém, để xếp chỗ ngồi cho hợp lý như: Nam ngồi xen kẽ nữ, em khá giỏi ngồi với em yêu kém, kết hợp phân công đôi bạn cùng tiến,…

+ Trao đổi, chia sẻ: Tôi chủ động đến gặp một số em, để hỏi thăm thêm về gia đình, hoàn cảnh sống thường ngày của gia đình,…động viên, chia sẻ, giúp đỡ.

c) Bầu ban cán sự lớp: Bầu ban cán sự lớp là việc cần làm ngay từ đầu năm, đây là một trong những điều kiện để các em thể hiện mình, có ý thức tự quản tốt, có ý thức đi vào nề nếp. Do đó tôi đã sắp xếp thời gian hợp lý nhất, cho các em tổ chức bầu ban cán sự lớp theo quy định, chọn ra những em có năng lực tốt để đảm nhận nhiệm vụ của lớp giao phó, sau đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong ban cán sự.

2.2.2. Xây dựng “Lớp học thân thiện, học sinh tích cực”:

a)Trang trí lớp học thân thiện: Phòng học là nơi các em học tập, vui chơi. Bởi thế mà ngoài việc có một phòng học khang trang, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi, còn cần có phòng học trang trí đẹp, thân thiện, gần gũi với các em, tạo cho các em sự thích thú, say mê, niềm phấn khởi khi ngồi vào lớp học. Cho nên ngay từ đầu năm tôi cùng các em đã trang trí lớp học rất đẹp, với nhiều nội dung, hình ảnh phong phú, đa dạng phục vụ cho việc học tập tốt hơn, mang lại nhiều niềm vui hơn cho các em mỗi ngày đến lớp.

b) Xây dựng mối quan hệ Thầy – trò, bạn bè trong và ngoài lớp:

Mối quan hệ giữa thầy-trò

Mối quan hệ bạn bè trong và ngoài lớp:

c) Tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể: Tham gia các hoạt động tập thể giúp cho các em rất nhiều về kĩ năng sống, các em có cơ hội thể hiện mình trước đám đông, thể hiện những tài năng, năng lực và kĩ năng giao tiếp của mình. Qua đó giáo dục các em về sự hiểu biết nhiều lĩnh vực của cuộc sống, phẩm chất, nhân cách, đạo đức,…Chính vì thế trong công tác chủ nhiệm, tôi luôn chú trọng việc tham gia, tổ chức cho các em hoạt động tập thể theo quy định, lịch của trường, lớp. Các giờ hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động thể dục thể thao, vui chơi, múa hát,…tôi đều tạo điều kiện cho các em được luyện tập, tham gia đầy đủ và có hiệu quả nhất.

2.2.3. Một số phương pháp giúp các em học tốt ở lớp và ở nhà.

Học ở lớp: Dựa vào kết quả điều tra thông tin học sinh đầu năm, tôi đã xếp chỗ ngồi cho các em hợp lý, em khá giỏi ngồi gần em yêu kém, kết hợp phân công đôi bạn cùng tiến, tạo điều kiện cho các em học tập theo nhóm đôi, từ đó các em giúp đỡ, hỏi bài nhau trong những lúc giải quyết bài tập khó. Trong giờ học tôi luôn bao quát lớp, không để tình trạng các em không chú ý. Giảng giải thật kĩ những bài tập khó, dùng nhiều phương pháp dạy học linh hoạt như: Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp hỏi đáp, phương pháp kĩ thuật khăn trải bàn, … kích thích sự hứng thú, tích cực và tính tự học, sáng tạo của học sinh. Mặt khác tôi luôn biểu dương, khen ngợi những em hăng say trong giờ học, động viên, giúp đỡ kịp thời.

Học ở nhà: Ngoài việc học tốt ở lớp, nếu các em về nhà không ôn tập, không học lại thì dẫn tới dễ quên, mạch kiến thức sẽ bị hỏng, không thực hành được tốt. Vậy việc học bài và làm bài tập thêm ở nhà cũng rất cần thiết, phần nào giúp các em nắm vững kiến thức ở lớp, học thuộc bài khi cô kiểm tra bài cũ,…Thế nên tôi đã có một số biện pháp giúp các em học tốt khi ở nhà, đó là:

+ Lập thời gian biểu hợp lý nhất chung cho tất cả các em.

+ Thường xuyên kiểm tra bài cũ, việc làm bài tập thêm ở nhà.

+ Phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, để trao đổi tình hình học tập của các em, như là gọi điện, liên lạc bằng sổ, trực tiếp đến nhà,…Đặc biệt quan tâm trao đổi thường xuyên với phụ huynh học sinh cá biệt, những em còn yếu kém, tạo mọi điều kiện giúp đỡ kịp thời.

2.2.4. Phối kết hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu, Đội và các giáo viên bộ môn.

Mỗi giáo viên, ai cũng muốn học sinh của mình chăm ngoan, học giỏi, phát triển toàn diện, để sau này trở thành người có ích cho xã hội. Mỗi học sinh Tiểu học như những cây non, chúng ta cần uốn nắn, chăm chút cẩn thận, nhẹ nhàng chỉ bảo, nêu gương nhiều hơn là khiển trách để giúp học sinh tự tin vào bản thân mình và phát triển.

Đứng trước vai trò, vị trí, tầm quan trọng của một giáo viên chủ nhiệm lớp 4 tôi luôn tìm tòi, học hỏi trau dồi nhiều kinh nghiệm hơn nữa, để sao cho lớp mình chủ nhiệm luôn đạt được kết quả và thành tích cao trong mọi lĩnh vực. Chắc chắn rằng giải pháp đưa ra còn nhiều hạn chế, thiếu sót do đúc kết từ kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng ban giám khảo.

Trên đây là bài thuyết trình của tôi về một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng chí để tôi hoàn thiện tốt hơn nữa trong công tác chủ nhiệm lớp. Cuối cùng tôi xin kính chúc các vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Hội thi thành công rực rỡ. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

2. Bài thuyết trình thi giáo viên chủ nhiệm giỏi Tiểu học số 2

Kính thưa ban giám khảo, các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường

Lời đầu tiên cho phép tôi được kính chúc các quý vị đại biểu, khách quý mạnh khoẻ hạnh phúc. Chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. Chúc Hội thi …của trường chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa ban giám khảo!

Là người giáo viên dạy Tiểu học, không những truyền đạt cho học sinh về nội dung kiến thức các môn học, mà còn phải làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn phải biết tổ chức, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục, đó là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của người giáo viên. Muốn giáo dục cho một đứa trẻ được hoàn thiện quả không đơn giản, người giáo viên phải bao quát tất cả các kĩ năng, kiến thức, nội dung lẫn phương pháp khi đứng trên bục giảng. Để nhận thấy được tầm quan trọng đó, bản thân tôi luôn cần phải trang bị cho mình một số biện pháp, phương pháp và linh hoạt xử lí mọi tình huống diễn ra trong quá trình giảng dạy. Tôi đã 13 năm làm công tác chủ nhiệm và đặc biệt là 11 năm được chủ nhiệm lớp 4, tôi đúc rút cho mình một số biện pháp về làm tốt công tác chủ nhiệm lớp 4. Năm nay tôi mạnh dạn trình bày chủ đề thuyết trình: “Một số biện pháp để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp 4” giới thiệu cùng với bạn bè đồng nghiệp gần, xa. Góp một phần nhỏ vào công tác chủ nhiệm học sinh Tiểu học nói chung và chủ nhiệm lớp 4 nói riêng, nhằm đưa ra một số biện pháp tốt nhất để giáo dục học sinh nói chung và mỗi học sinh mình chủ nhiệm nói riêng một cách hoàn thiện nhất.

Kính thưa ban giám khảo!

Mỗi giáo viên muốn làm tốt công tác chủ nhiệm lớp thì phải vừa là một giáo viên giỏi về chuyên môn, vừa phải là một nhà tâm lí giỏi để hiểu học sinh, xử lí tình huống rắc rối sao cho khéo léo, tế nhị và đạt hiệu quả giáo dục cao. Nếu giáo viên không tâm huyết với nghề, không có tinh thần trách nhiệm cao thì khó mà hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng học tập, nhân cách, đạo đức, lối sống,…của học sinh sẽ ra sao? Chính vì hiểu rõ điều đó nên trong những năm qua, tôi luôn cố gắng phấn đấu làm tốt vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm lớp.

Công việc của giáo viên chủ nhiệm lớp là vô vàn và thuộc nhiều lĩnh vực, không thể kể hết được. Trong nội dung thuyết trình hôm nay, tôi chỉ tập trung vào một số nội dung giải pháp sau đây:

1. Xây dựng nề nếp lớp học.

1.1. Như đã nói ở trên, muốn xây dựng được nề nếp lớp học tốt thì trước hết giáo viên cần phải nắm bắt được tình hình học sinh của lớp về mọi mặt. Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi thực hiện ngay công tác điều tra. Tôi phát cho mỗi em một phiếu điều tra và yêu cầu các em điền đầy đủ thông tin trong phiếu:

1.2. Một lớp học có nề nếp và chất lượng tốt là nhờ một phần lớn vào sự hỗ trợ của ban cán sự lớp. Việc bầu chọn ban cán sự lớp là một việc cần thiết mà người giáo viên chủ nhiệm nào cũng cần phải làm ngay khi mới nhận lớp. GV phải phân tích cho học sinh hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của người lớp trưởng, lớp phó. Tổ chức cho học sinh xung phong ứng cử, sau đó chọn 5 em tiêu biểu để bầu chọn 3 em. Những em đạt số phiếu cao nhất sẽ được chọn vào ban cán sự lớp.

1.3. Sau khi bầu chọn được ban cán sự lớp thì nhiệm vụ tiếp theo là phân công nhiệm vụ cụ thể và giao trách nhiệm cho ban cán sự lớp.

– Nhiệm vụ của lớp trưởng: Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp, điểm danh sĩ số của lớp, điều khiển các bạn xếp hàng.

– Nhiệm vụ của hai lớp phó: Kiểm tra bài 15 phút đầu buổi, giúp đỡ các bạn học yếu học bài, làm bài, phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật.

Nhiệm vụ của mỗi em tôi ghi rõ ràng trong một cuốn sổ sau đó phát sổ cho các em. Tôi hướng dẫn các em cách ghi chép trong sổ một cách cụ thể. Mỗi em sẽ làm đúng nhiệm vụ của mình.

– Số học sinh trong lớp được chia làm 3 tổ, mỗi tổ có một tổ trưởng. Tổ trưởng chịu trách nhiệm phân công, điểu khiển các bạn trong tổ làm trực nhật. Lớp phó lao động chịu trách nhiệm kiểm tra công việc trực nhật hàng ngày của lớp.Tổ nào làm không tốt, lớp phó lao động có quyền phạt tổ đó làm trực nhật thêm một ngày. Và trong mỗi tiết học, học sinh phải thể hiện tinh thần tự quản, tự theo dõi nhắc nhở nhau giữ sạch lớp cũng như nề nếp lớp.

Cuối mỗi tuần, vào tiết sinh hoạt lớp, lớp trưởng, lớp phó báo cáo các mặt hoạt động của lớp. Căn cứ vào báo cáo của từng em, tôi nắm được khả năng quản lí lớp của em đó và cũng thấy được khả năng hoàn thành nhiệm vụ của em đó như thế nào, từ đó xây dựng cho lớp học của mình một nề nếp tự quản tốt.

2. Xây dựng mối quan hệ thầy trò và bạn bè trong lớp.

2.1. Xây dựng mối quan hệ thầy trò.

– Một yếu tố không kém phần quan trọng góp phần đưa chất lượng học tập của học sinh ngày một tốt hơn đó chính là mối quan hệ thây trò. Trước đây quan hệ thầy, trò là quan hệ của bề trên – kẻ dưới; giảng giải – ghi nhớ. Ngày nay, quan hệ này được thay bằng quan hệ phân công – hợp tác. Quan hệ cơ bản nhất của tôi và học trò là quan hệ hợp tác làm việc: tôi giao việc – học trò làm; tôi hướng dẫn- học trò thực hiện.

– Khi giao việc tôi chỉ nói một lần, nhưng chỉ nói khi lớp trật tự. Với cách làm này thầy sẽ trở nên nói ít, học trò làm nhiều. Hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí cũng như sự hình thành tính cách của trẻ. Vì vậy khi lên lớp, tôi luôn chú ý đến cả cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, cách cầm sách, chữ viết,… để trò noi theo.

– Khi học sinh làm bài chưa đúng, tôi giúp đỡ, hướng dẫn học sinh làm lại ngay tại lớp. Với cách làm đúng, nói đúng trong học tập, các em sẽ trở thành những con người tự tin, trung thực, không gian dối.

– Khi có học sinh mắc sai lầm, thiếu sót, tôi luôn cố gắng kiềm chế và tôn trọng học sinh, tìm hiểu cặn kẽ thấu đáo nguyên nhân để có biện pháp giúp đỡ các em sửa chữa. Tôi không bao giờ có những lời nói, cử chỉ xúc phạm các em. Ở tuổi này, lòng tự trọng của các em rất cao, chỉ một lời nói xúc phạm sẽ làm tổn thương tâm hồn trẻ thơ. Thậm chí có em sẽ oán hận, căm ghét thầy cô, bỏ học và không bao giờ trở lại lớp học nữa cho dù có nhiều người đến nhà vận động.

2.2. Xây dựng mối quan hệ bạn bè:

Trong cuộc sống của mỗi con người, ngoài những người thân trong gia đình ra, ai cũng cần có bạn bè để chia sẻ. Học sinh Tiểu học cũng vậy, nếu các em có nhiều bạn bè thân thiết trong lớp thì các em sẽ hợp tác vui vẻ với nhau và sẽ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Em học giỏi sẽ giúp những em học yếu; ngược lại, em học yếu cũng dễ dàng nhờ bạn giúp đỡ mình học tập mà không phải e ngại, xấu hổ . Tục ngữ có câu “Học thầy không tày học bạn”. Nhưng trong thực tế, một lớp học thường xuất hiện nhiều nhóm học trò. Các em chia bè phải, phân biệt giàu nghèo, hay nói xấu hoặc châm chọc nhau. Những em nữ thì hay dỗi, hay hờn giận. Còn các em nam thì hăm he đánh nhau, trả thù nhau. Tuy các em chưa gây ra chuyện gì nghiêm trọng nhưng nó vẫn ảnh hưởng xấu đến tình cảm bạn bè và chất chất lượng học tập của lớp. Là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn quan tâm đến vấn đề này. Xây dựng được mối quan hệ bạn bè đoàn kết, gắn bó thì tôi sẽ xây dựng được nề nếp lớp học, tiến tới xây dựng môi trường học tập thân thiện. Từ môi trường học tập thân thiện đó, chất lượng học tập của lớp chắc chắn sẽ được nâng cao.

3. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà.

Một học sinh muốn có kết quả học tập tốt ngoài việc tiếp thu những kiến thức ở trên lớp thôi chưa đủ mà việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới tại nhà cũng vô cùng quan trọng. Để việc học ở nhà của các em học sinh được diễn ra thường xuyên và có hiệu quả, tôi đã hướng dẫn các em lập một thời gian biểu thật cụ thể, phù hợp với tình hình của gia đình. Thông qua thời gian biểu, tôi biết được chính xác thời gian học bài ở nhà của từng em.

Căn cứ và thời gian học bài ở nhà của từng em, tôi đi kiểm tra, hướng dẫn các em tự học ở nhà. Việc kiểm tra các em học bài ở nhà được tôi thực hiện đều đặn và duy trì thường xuyên. Lúc đầu, tôi trực tiếp kiểm tra và hướng dẫn tỉ mỉ phương pháp học tập cho những em học yếu và những em trong đội tuyển học sinh giỏi của lớp.

Khi việc học bài ở nhà của học sinh đã đi vào nề nếp, tôi phân chia lớp thành các nhóm theo khu vực dân cư (theo tổ) và phân công mỗi nhóm một nhóm trưởng. Em nhóm trưởng sẽ kiểm tra và báo cáo với tôi tình hình tự học ở nhà của các thành viên trong nhóm và đặc biệt lưu ý đến những bạn học yếu hoặc chưa có ý thức tự học ở nhà. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đến kiểm tra đột xuất một số em để nắm tình hình. Nếu phát hiện thấy em nào lơ là, tôi phải tăng cường kiểm tra ngay. Thấy tôi quan tâm đến việc học ở nhà của con em mình nên phụ huynh cũng nhiệt tình phối hợp với tôi: nhắc nhở, kiểm tra và tạo điều kiện cho con em mình học tập ở nhà. Sự tiến bộ của học sinh được tôi thường xuyên thông báo cho gia đình biết qua điện thoại. Vì vậy, phụ huynh rất vui và càng quan tâm đến việc học của các em.

Mỗi giáo viên tiểu học cần có tâm huyết với nghề, yêu trẻ và thực sự có trách nhiệm cao. Cần trau dồi nghiệp vụ, sáng tạo, học hỏi và cần sự giúp đỡ của cấp trên. Tạo được mối liên kết giữa gia đình nhà trường và xã hội tạo ra được một môi trường sư phạm lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay và đáp ứng lòng mong mỏi của phụ huynh học sinh.

Trên đây là bài thuyết trình của tôi về một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng chí để tôi hoàn thiện tốt hơn nữa trong công tác chủ nhiệm lớp. Cuối cùng tôi xin kính chúc các vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Hội thi thành công rực rỡ. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

3. Bài thuyết trình thi giáo viên chủ nhiệm giỏi Tiểu học số 3

Kính thưa ban giám khảo, các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường

Lời đầu tiên cho phép tôi được kính chúc các quý vị đại biểu, khách quý mạnh khoẻ hạnh phúc. Chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. Chúc Hội thi …của trường chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa ban giám khảo!

GV chủ nhiệm lớp ở Tiểu học có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo dức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học tốt lên những lớp trên. Ngoài việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp còn phải thường xuyên theo dõi các hoạt động trong giờ chơi, trong các buổi sinh hoạt, giao lưu tập thể,… và cả hoạt động tự học ở nhà của học sinh. Vì vậy, tôi khẳng định rằng công tác chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là cực kì quan trọng, là nhân tố số một quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Bản thân tôi đã liên tục nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp. Có năm công tác chủ nhiệm của tôi rất nhẹ nhàng vì giáo viên lớp trước đã làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Tôi chỉ việc phát huy và sáng tạo thêm theo mục tiêu phấn đấu của mình. Nhưng cũng có năm, tôi rất vất vả với công tác chủ nhiệm đầu năm. Tôi phải xây dựng lại từ đầu nề nếp lớp học, hướng dẫn học sinh cách bao bìa dán nhãn, cách trình bày trong vở, cách làm vệ sinh lớp, đề ra các nội quy của lớp,…và phải thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn những sai sót của học sinh nên có lúc rất căng thẳng, mệt mỏi.

Sau nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Liên tục mấy năm qua, lớp tôi chủ nhiệm luôn duy trì sĩ số 100%, chất lượng học tập cũng như hạnh kiểm của học sinh luôn dẫn đầu trong khối và trong toàn trường. Vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa đưa ra một số giải pháp để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp trong hội thi giáo viên chủ nhiệm giỏi năm học …

Biện pháp 1: Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra phương pháp giáo dục phù hợp:

a. Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ nhiệm cũ, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh.

b. Tiến hành phân loại đối tượng để đưa vào sổ kế hoạch công tác chủ nhiệm, cụ thể:

– Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn.

– Học sinh khuyết tật.

– Học sinh cá biệt về phẩm chất.

– Học sinh CHT.

– Học sinh có những năng lực đặc biệt.

Biện pháp 2: Áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng loại đối tượng:

a. Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn:

– Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên động viên giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần. Kêu gọi học sinh cả lớp có tinh thần đoàn kết giúp bạn vượt khó. Đề đạt với chi hội phụ huynh lớp, nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ những em đó. Tính ưu việt của việc làm này là vừa khắc phục được khó khăn lại vừa giáo dục được lòng nhân ái cho học sinh và tranh thủ được sự hỗ trợ của nhà trường của hội phụ huynh học sinh.

b. Đối với những học sinh khuyết tật:

Giáo viên chủ nhiệm cần dành tình cảm ưu ái hơn. Chú ý cách bố trí chỗ ngồi phù hợp, cách đặt câu hỏi gợi mở khi tìm hiểu bài và sự đòi hỏi yêu cầu về nội dung bài học sẽ khác hơn so với học sinh bình thường. Thường xuyên gặp gỡ phụ huynh để kết hợp theo dõi diễn biến về sức khoẻ và học tập của các em.

c. Đối với học sinh cá biệt về phẩm chất:

Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo….Hoặc trẻ có những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được…

Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình.

d. Đối với học sinh chưa hoàn thành:

– Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học chậm, hạn chế tiếp thu những môn nào. Có thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản.

– Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau:

+ Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời gian ngoài giờ lên lớp .

+ Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em.

+ Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên lớp.

+ Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh khá giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ.

+ Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em.

+ Chú ý tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè.

e. Đối với những học sinh có năng lực đặc biệt:

– Điều quan trọng là phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ…

– Cùng với nhà trường lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các đối tượng này.

– Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi, những buổi nói chuyện ngoại khoá hoặc gần gũi nhất ngay trong tiết học chính khoá.

Tóm lại dù với đối tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ huynh để giáo dục và đặc biệt xác định vấn đề giáo dục KT-KN, phẩm chất, năng lực là vấn đề then chốt.

Biện pháp 3: Thực hiện tốt tiết sinh hoạt Chủ nhiệm

Trong giờ sinh hoạt Chủ nhiệm, cần tạo cho các em tâm thế thoải mái, không gây sức ép nặng nề đối với học sinh bằng những lời trách phạt, phê bình mà giáo viên tập cho các em biết phê và tự phê. Trong mỗi tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên cho học sinh tự nhận xét ưu, khuyết điểm bằng nhiều hình thức khác nhau như: Cán bộ lớp nhận xét, cá nhân tự nhận xét. Bên cạnh đó, giáo viên cũng tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ những suy nghĩ của mình qua một tuần học: những điều em thích, những điều em chưa thích, mong muốn của em, … Qua đó, giáo viên nắm được tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh mà có những biện pháp giáo dục phù hợp.

Cũng trong tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên đưa ra những yêu cầu, nội dung về rèn luyện đạo đức, học tập rồi tổ chức cho học sinh thảo luận lập kế hoạch hành động cụ thể. Giáo viên nhận xét và chọn những hành động thiết thực để các em thực hiện. Sau mỗi tuần, hoặc thời gian quy định, giáo viên cho học sinh tự nhận định, đánh giá lại những việc đã làm được và chưa làm được so với kế hoạch, từ đó rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn.

Ví dụ: Học sinh thảo luận lập kế hoạch hành động thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy: “Đoàn kết tốt- Kỉ luật tốt”. Học sinh đã đưa ra một số hoạt động như sau:

– Đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến.

– Không gây gổ, đánh nhau.

– Không nói chuyện trong giờ học.

– Thực hiện tốt các nội quy của trường.

– Thân ái với mọi người.

– Tự giữ trật tự khi không có cô hoặc cô có khách.

Bên cạnh đó, trong các tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên lồng ghép một số hoạt động giáo dục về quyền trẻ em, an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, rèn các kĩ năng sống, tìm hiểu về lịch sử, học tập đạo đức Bác Hồ,… nêu những tấm gương tốt cho học sinh noi theo.

GV đưa ra một số nội quy lớp học:

+ Đi học đúng giờ

+ Xếp hàng nhanh

+ Chú ý nghe giảng

+ Làm bài nhanh, cẩn thận

+ Giúp đỡ mọi người

+ Lễ phép , vâng lời

+ Giữ trật tự, kỉ luật

Ngoài ra, trong giờ sinh hoạt Chủ nhiệm, giáo viên cũng lồng ghép giáo dục, rèn luyện học sinh một số hành vi đạo đức, kĩ năng sống, ý thức bảo vệ môi trường,…

Biện pháp 4: Hướng học sinh đến những hoạt động đoàn kết, quan tâm, giúp đỡ nhau

Ngay từ những ngày đầu năm học, giáo viên tổ chức các hoạt động cho học sinh giao lưu, tìm hiểu về nhau. Để giúp các em biết quan tâm, giúp đỡ nhau thì ban đầu trong mỗi ngày học, giáo viên dành ra một khoảng thời gian để trò chuyện cùng các em, hỏi các em có những gì vui, buồn, điều gì hay, … chia sẻ với Cô và các bạn. Dần dần sau đó, giáo viên cho các em tự đi tìm hiểu, chia sẻ với nhau. Qua những hoạt động đó tạo mối gắn kết các em lại thành một tập thể đoàn kết, thương yêu, quý mến nhau.

Ngoài ra, giáo viên còn tạo cho học sinh biết đối xử thân thiện, hòa nhã với nhau, xưng hô lịch sự, biết dùng lời hay ý đẹp để nói với nhau.

Ví dụ: Uốn nắn học sinh thay đổi cách xưng hô “ông – bà” sang xưng hô “mình – bạn”, “cậu – tớ”, xưng hô tên.

Biện pháp 5: Giáo dục qua các câu chuyện kể

Trong những giờ học đạo đức, tiết sinh hoạt Chủ nhiệm, …giáo viên kể cho các học sinh nghe những câu chuyện về những tấm gương vượt khó học giỏi, con ngoan trò giỏi, những người bạn tốt nhằm giáo dục các em về cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống.

Ví dụ: Câu chuyện kể “Mẹ mãi mãi bên con” kể vể một cậu bé lúc nhỏ mang bệnh tật không thể học được nhưng bằng tất cả sự yêu thương, giúp đỡ, động viên của mẹ cùng với ý chí, quyết tâm của mình mà cậu đã vượt qua được khó khăn và trở thành một người tài giỏi. Nhưng chính lúc mà cậu thành công thì cũng là lúc mẹ cậu lâm bệnh nặng rồi qua đời. Cậu vô cùng thương tiếc và đau buồn vì mình chưa đền đáp công ơn mẹ, chưa lo lắng chăm sóc cho mẹ một ngày nào. Và với cậu hình ảnh người mẹ luôn mãi mãi ở bên cậu.

Qua câu chuyện giáo viên giáo dục học sinh về ý chí vươn lên, vượt khó trong cuộc sống. Học sinh còn được học về sự hiếu thảo, cách cư xử với cha mẹ ngay từ khi còn nhỏ.

Biện pháp 6: Tạo môi trường học tập thân thiện

Hướng dẫn học sinh cùng thực hiện trang trí lớp học tích cực, thân thiện: học sinh sẽ trình bày các sản phẩm học tập của các em, ghi những bài học cần nhớ, sưu tầm tranh ảnh có liên quan đến các kiến thức được học. Qua đó các em được học hỏi những điều hay từ bạn mình.

Bên cạnh đó, giáo viên còn tập cho các em có thói quen tự giác làm việc, biết tự tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình bằng cách yêu cầu các em đọc sách báo, xem ti vi, nghe tin tức… . Sau đó các em cùng trao đổi, chia sẻ với bạn để cùng nhau hiểu biết về cuộc sống xung quanh.

Ngoài ra giáo viên cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động phong trào, vui chơi của nhà trường. Qua đó các em được rèn luyện một số kĩ năng: hợp tác, tinh thần đồng đội, sức khỏe…

Biện pháp 7: Công tác phối hợp giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội

Đối với phụ huynh: Giáo viên chủ nhiệm phải biết vận động, động viên phụ huynh cùng với phụ huynh bàn bạc một số giải pháp nhằm giúp con học tốt, giáo dục đạo đức ở gia đình, thu nộp đầy đủ các khoản quy định. Cùng chi hội phụ huynh của lớp thăm hỏi học sinh đau ốm kịp thời, học sinh gặp khó khăn thường xuyên để có hướng giúp đỡ… Thường xuyên thông tin để phụ huynh biết tình hình học tập của con em mình từ đó có định hướng để giáo dục tốt con em.

Phát huy tối đa vai trò của các tổ chức chính trị trong nhà trường đặc biệt là đội TNTP Hồ Chí Minh.

+ Bám sát kế hoạch hội đồng đội, phối hợp với tổng phụ trách và các lớp trong khối, trong trường tạo ra các sân chơi bổ ích thiết thực cho học sinh.

+ Thường xuyên kiểm tra nhắc nhở việc giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ.

+ Cùng tham gia lao động và hướng dẫn học sinh trong các buổi lao động.

Trên đây là bài thuyết trình của tôi về một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng chí để tôi hoàn thiện tốt hơn nữa trong công tác chủ nhiệm lớp. Cuối cùng tôi xin kính chúc các vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Hội thi thành công rực rỡ. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

4. Bài thuyết trình giáo viên chủ nhiệm giỏi THCS số 1

Kính thưa ban giám khảo, các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường

Lời đầu tiên cho phép tôi được kính chúc các quý vị đại biểu, khách quý mạnh khoẻ hạnh phúc. Chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. Chúc Hội thi …của trường chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa ban giám khảo!

Song song với việc dạy học văn hoá theo hướng hiện đại, tăng cường tính chủ động sáng tạo và phát huy tính tích cực của học sinh thì việc đổi mới giáo dục nhân cách học sinh theo hướng đó cũng được đặt ra cấp thiết . Bởi sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục toàn diện học sinh BGH trường … luôn đề cao vai trò của người giáo viên làm chủ nhiệm lớp. Trong cuộc đời của mỗi giáo viên, ít ai không làm công tác chủ nhiệm, công việc mang lại cho ta nhiều niềm vui nỗi buồn, và những kỷ niệm khó quên. Vì bên cạnh việc truyền đạt kiến thức cho học sinh thì mỗi giáo viên Chủ nhiệm có một trọng trách cao cả là: “Dạy các em làm người”. Tôi nhận thấy rằng: GVCN là người cha, người mẹ, người thầy, là người anh, người chị, … và cũng có những lúc cần là người bạn… Như vậy có nghĩa là cùng một lúc GVCN có nhiều “vai diễn” và vai nào cũng đòi hỏi phải hoàn thành xuất sắc… Hơn nữa trong công tác chủ nhiệm đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tâm huyết yêu nghề, yêu người và có tình người coi học trò như người thân yêu của mình.

Kính thưa các vị đại biểu!

Nhiều năm qua, được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường tôi được giao làm công tác chủ nhiệm lớp 9 tôi nhận thấy rằng làm công tác GVCN thực sự rất vất vả. Song để trở thành một chủ nhiệm được học trò và phụ huynh tin tưởng thì càng khó khăn hơn. Trong những chuyến đưa đò qua sông tôi được tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh khác nhau: Có những học sinh ngoan hiền học giỏi, có những em nhiệt tình, tự tin thể hiện khả năng của mình, cũng có những em rụt rè nhút nhát, hay những em nghịch ngợm có ý thức kém, có những em có hoàn cảnh rất khó khăn …. Là giáo viên chủ nhiệm chúng ta phải làm gì để những HS của chúng ta luôn là những bông hoa tươi đẹp, tỏa mãi hương thơm của tuổi học trò, tôi luôn trăn trở tìm các biện pháp có tính khả thi có hiệu quả trong công tác chủ nhiệm để mong sao các em được phát triển toàn diện hơn. Hôm nay trong Hội thi năm nay, tôi mạnh dạn nêu ra một vài kinh nghiệm của bản thân mà trong những năm qua tôi đã áp dụng có hiệu quả.

Một là: Giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực quản lí

Thông thường mỗi GVCN phải quản lý một lớp khoảng trên 35 học sinh trong 1- năm. Do đó, năng lực quản lý, lãnh đạo của GVCN là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành công của một lớp học.

GVCN phải có đủ hiểu biết và các kỹ năng để điều tra khảo sát, xây dựng kế hoạch lớp chủ nhiệm, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục đến từng học sinh. Ngoài việc thực hiện các chỉ đạo của Hiệu trưởng, của ngành thì GVCN cần phải biết xây dựng các hoạt động độc lập riêng, mang tính đặc thù của lớp mình. GVCN cũng cần phải có tầm nhìn, phát hiện và giải quyết sớm các vấn đề nảy sinh ở lớp mình chủ nhiệm. Khi triển khai một hoạt động giáo dục mới cần phải có kỹ năng “truyền lửa” làm cho mỗi HS tích cực, nhiệt huyết tham gia các hoạt động đó. Người giáo viên chủ nhiệm cũng phải là người “Cầm cân, nẩy mực” để sử lý moị tình huống xảy ra trong lớp. Vì thế rất cần giáo viên chủ nhiệm phải công tâm, nhiệt tình, trách nhiệm, tâm lí yêu thương học sinh và xây dựng một ban cán sự lớp tự quản có uy tín, có trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh.

Hai là: GVCN phải Gần gũi, thấu hiểu quan tâm và nắm chắc hoàn cảnh của từng HS trong lớp

Đầu năm khi nhận lớp việc đầu tiên tôi làm là phải nắm bắt được thông tin cá nhân từng em, cho các em viết lí lịch trích ngang, biết được vị trí nhà ở của các em gần gũi thấu hiểu và nắm chắc hoàn cảnh của từng học sinh trong lớp về những thuận lợi và khó khăn đặc biệt quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh đặc biệt . Những trường hợp này tôi luôn gần gũi trò chuyện tiếp xúc với các em nhiều hơn, tạo cho các em sự thân thiết, tin tưởng để có thể dễ dàng bộc lộ tâm tư tình cảm, điều mong muốn của chính mình khi cần thiết. Qua đó tôi sẽ hiểu các em hơn và kịp thời ngăn chặn những suy nghĩ nông cạn, sai lầm hay các hành vi không hay… hướng các em nhận thức được giá trị bản thân, nâng cao lòng tự trọng và biết cố gắng để vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.

GVCN phải bằng tấm lòng nhân ái, bao dung không vụ lợi , yêu thương học sinh bằng tấm lòng chân thành, cởi mở, tạo cho các em miềm vui khi đến trường. Cần giáo dục học sinh biết quan tâm đến người khác bằng những việc làm cụ thể như: Tham gia các phong trào từ thiện nhân đạo, kế hoạch nhỏ, giúp đỡ các bạn khó khăn trong lớp … Việc làm này tuy nhỏ nhưng có tác dụng làm cho học sinh tự động viên nhắc nhở nhau trong học tập và tinh thần đoàn kết tương thân tương ái.

Ba là: GVCN phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

Người giáo viên phải thực sự mẫu mực, phải là tấm gương sáng toàn vẹn từ nhận thức đến hành động thực tiễn, từ lời nói cử chỉ điệu bộ đến thái độ ứng xử hằng ngày đây là cách giáo dục dùng nhân cách tác động đến nhân cách. Tôi luôn cố gắng tấm gương sáng cho học sinh noi theo, không ngừng học hỏi để tiến bộ hơn hoàn thiện hơn.

GVCN phải rèn luyện tay nghề để trở thành giáo viên dạy giỏi, vững vàng về chuyên môn. Có nhiều quan điểm cho rằng dạy và chủ nhiệm là hai công việc khác nhau, không liên quan đến nhau. Tôi cho rằng GVCN phải ý thức được giảng dạy bộ môn tốt góp phần quan trọng cho công tác chủ nhiệm tốt ở ngay lớp mình chủ nhiệm, góp phần tạo nên uy tín của giáo viên, vì tâm lí học sinh cũng như phụ huynh luôn cảm thấy yên tâm khi GVCN có năng lực chuyên môn. Ngoài ra GVCN là người cha, người mẹ là chỗ dựa tinh thần cho các em, phải biết lắng nghe học sinh nói và không áp đặt học sinh. Có như thế các em mới thấy mình được tôn trọng.

Như chúng ta đã biết, các em học sinh bậc THCS ở độ tuổi “dậy thì”, “ tuổi khó bảo” rất dễ tự ái, dễ chán nản trước những khó khăn trong cuộc sống.

Ở tuổi này các em hành động theo cảm xúc nhất thời, gvcn cần gần gũi, tiếp xúc, trò chuyện với các em nhiều hơn, tạo sự thân thiện, tin tưởng để các em bộc lộ tình cảm, giúp chúng ta kịp thời ngăn chặn các sai lầm ở các em.

Để khích lệ các em, tôi luôn gần gũi, quan tâm, khen chê các em đúng và kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Tổ nào ý thức đoàn kết tự quản tốt, cá nhân nào gương mẫu, tiến bộ, thành tích tốt đều được tuyên dương, khen thưởng kịp thời trong mỗi tiết sinh hoạt vào cuối tuần. Dịp cuối tháng thì xếp loại thi đua và gửi kết quả rèn luyện của HS về cho gia đình. Để làm được việc này, tôi đã tham mưu và phối hợp với BCH Hội cha mẹ học sinh để thống nhất về cách thực hiện cũng như kinh phí khen thưởng.

Bốn là: GVCN là “cầu nối” Phối hợp với giáo viên bộ môn trong công tác giảng dạy

Trong quá trình giảng dạy, bên cạnh sự quán xuyến, đôn đốc, theo dõi của GVCN còn có một tập thể các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy và truyền đạt kiến thức bộ môn. GVCN có thể trao đổi với giáo viên bộ môn để nắm bắt thêm về tinh thần, thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật, học lực…của từng học sinh trong lớp. Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm có sự nhìn nhận và đánh giá khách quan về chất lượng học tập của từng học sinh trong lớp đồng thời có biện pháp động viên, nhắc nhở, giáo dục phù hợp đối với từng học sinh giúp các em học tập và rèn luyện nhân cách đạo đức tốt hơn.

Năm là: Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với phụ huynh của lớp

Để làm được công tác chủ nhiệm tốt, tôi không thể không nói tới sự phối hợp chặt chẽ giữa GVCN và phụ huynh học sinh. Đây là mối quan hệ không thể thiếu được. Chính vì ngay từ khi nhận lớp tôi đã lập danh sách số điện thoại liên lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi với cha mẹ học sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin với cha mẹ học sinh những học sinh cá biệt. Thông qua công việc này giúp giáo viên biết được các thói quen, sở thích thái độ của học sinh thường biểu hiện ở gia đình. Qua đó giúp cha mẹ học sinh biết được tình hình học tập những dấu hiệu sa sút của các em đồng thời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm của nhà trường đối với gia đình từ đó tạo được niềm tin đối với phụ huynh trong việc giáo dục con cái họ. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế bớt mặc cảm, tự ti ở các em giảm bớt tâm lí lo sợ khi tiếp xúc với GVCN.

Kính thưa các vị đại biểu!

Để làm tốt công tác chủ nhiệm, đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm không chỉ là một giáo viên dạy tốt văn hóa mà còn phải quan tâm đến sự phát triển ở học sinh cả những giá tri đạo đức, thể chất, thẩm mĩ…Vì vậy theo tôi hai yếu tố cốt lõi không thể thiếu đối với giáo viên chủ nhiệm đó là sự nhạy bén của một nhà tâm lí và cái tâm của một nhà giáo dục. Làm tốt hai yếu tố này thì người giáo viên nói chung và người giáo viên chủ nhiệm nói riêng đều có thể làm tốt trách nhiệm của mình trong thời đại mới ngày nay và luôn để lại ấn tượng tốt trong lòng học trò.

Trên đây là bài thuyết trình của tôi về một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng chí để tôi hoàn thiện tốt hơn nữa trong công tác chủ nhiệm lớp. Cuối cùng tôi xin kính chúc các vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Hội thi thành công rực rỡ. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

5. Bài thuyết trình giáo viên chủ nhiệm giỏi THCS số 2

TRƯỜNG THCS………
HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI THCS NĂM HỌC …….

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NỘI DUNG BÀI THUYẾT TRÌNH TIẾT DẠY
MÔN NGỮ VĂN

Giáo viên trình bày: ……………

Đơn vị công tác: Trường THCS………..

Tên bài dạy: Nhân Hóa

NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH

I. Mục tiêu bài dạy và ý tưởng xây dựng kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu.

1. Mục tiêu bài dạy.

– Về kiến thức: Học sinh năm được khái niệm nhân hóa, tác dụng của nhân hóa, các kiểu nhân hóa cơ bản.

– Về kỹ năng: Học sinh có thể vận dụng các kiến thức về nhân hóa để sử dụng trong đời sống hàng ngày và trong viết văn.

– Định hướng phát triển năng lực:

+ Năng lực tự chủ và tự học: hoạt động cá nhân để huy động kiến thức đã có để dễ dàng tiếp thu kiến thức và kĩ năng mới.

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: thảo luận cặp đôi và thảo luận nhóm để hoàn thành bài tập phát hiện ra kiến thức mới và rèn kiến thức đã có.

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Thông qua các bài tập học sinh có thể tự nhận ra các vấn đề cần giải quyết, từ đó lựa chọn kiến thức đã học để giải quyết vấn đề đó.

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Thông qua việc học sinh đọc và tiếp nhận nhiệm vụ và báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, học sinh được hình thành, trao đổi, rèn luyện và phát triển năng lực ngôn ngữ.

2. Ý tưởng xây dựng kế hoạch dạy học nhằm đạt được mục tiêu.

Tổ chức cho học sinh huy động vốn kiến kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về phép nhân hóa để đặt ra mục tiêu chính cần giải quyết sau đó thông qua các hoạt động cá nhân, nhóm để lĩnh hội kiến thức, kĩ năng bài học.

II. Giải thích, làm rõ ý tưởng tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh trong tiết dạy theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.

Tổ chức hoạt động (HĐ) dạy của giáo viên. Định hướng đổi mới phương pháp Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá

Tổ chức HĐ 1: GV cho học sinh làm việc cá nhân

Mô tả: Học sinh nhớ lại kiến thức cũ để hoàn thành bài tập

Nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, học sinh xác định được mục đích hoạt động và chủ động tự học, tự huy động vốn hiểu biết của mình để hoàn thành bài tập.

Thông qua việc hoạt động cá nhân học sinh báo cáo kết quả làm việc cá nhân cho giáo viên một kênh đánh giá ban đầu về mức độ nỗ lực của mỗi học sinh và mức độ kiến thức học sinh có được, góp phần khởi động bài học, tạo hứng thú và góp phần đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá.

Tổ chức HĐ 2: Hoạt động cá nhân+ theo cặp.

………………………

Mô tả: Học sinh làm việc theo sự hướng dẫn của giáo viên để phát hiện ra kiến thức mới từ đó rèn kĩ năng.

Nhằm phát huy vai trò các cá nhân trong lớp, tận dụng vốn hiểu biết của từng học sinh về các bài đã học, học sinh phối hợp để cùng phát hiện kiến thức mới.Thông qua thảo luận cặp đôi học sinh được trải nghiệm kĩ năng phản biện để đi đến kết quả chung.

Thông qua phương pháp vấn đáp phát hiện ra năng lực của từng em.

Thông qua sản phẩm của nhóm, giáo viên đánh giá được mức độ hoàn thành công việc của nhóm, học sinh được tham gia đánh giá và được các nhóm khác đánh giá sản phẩm, kết quả hoạt động của nhóm mình góp phần đa dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá.

Tổ chức HĐ 3: Thực hành luyện tập các kiến thức đã hình thành ở hoạt động 2.

………………………….

Mô tả: Giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập trong sách giáo khoa để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng vừa lĩnh hội được.

Hoạt động này nhằm phát huy vai trò của tất cả các học sinh, các nhóm trong việc nhận xét, bổ sung các nội dung mà các nhóm đã thực hiện, trên cơ sở đối chiếu, so sánh sản phẩm của nhóm mình với nhóm khác, so với yêu cầu bài tập để bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Đảm bảo quy trình tổ chức HĐ: Giao việc/HS làm/HS báo cáo, thảo luận/ GV kết luận.

Tiếp tục đa dạng hóa các hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh, thông qua câu trả lời của học sinh, thông qua sản phẩm hoạt động nhóm, thông qua phiếu học tập, … góp phần tạo hứng thú và lôi cuốn học sinh yêu thích môn học,

Tổ chức HĐ 4: GV hướng dẫn về nhà, tìm tòi, mở rộng.

………………………….

Mô tả: Giáo viên định hướng các nội dung về nhà để học sinh tìm hiểu, mở rộng

Nhằm mục đích mở rộng và phát triển kiến thức

Khuyến khích học sinh tìm hiểu các nội dung mà giáo viên định hướng về nhà, tạo điều kiện để học sinh có điều kiện, trao đổi, báo cáo kết quả tìm tòi, mở rộng … qua đó cho giáo viên thêm một kênh, thêm một hình thức đánh giá năng lực học sinh

III. Định hướng các hoạt động của học sinh trong tiết dạy để chủ động tiếp nhận kiến thức, thực hành kỹ năng theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.

Hoạt động (HĐ) học tập của học sinh

Định hướng hình thành và phát triển phẩm chất.

Định hướng hình thành và phát triển năng lực.

Hoạt động 1: Học sinh làm việc cá nhân để huy động kiến thức kĩ năng kinh nghiệm của bản thân hoàn thiện bài (5 phút).

Mô tả: Học sinh tự huy động kiến thức kĩ năng đã có

Phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm …

Năng lực tự chủ và tự học

Tổ chức HĐ 2:(25 phút) Hoạt động cá nhân+ theo cặp.

………………………

Mô tả: Học sinh làm việc theo sự hướng dẫn của giáo viên để phát hiện ra kiến thức mới từ đó rèn kĩ năng.

Chăm chỉ, trách nhiệm …

Năng lực giao tiếp và hợp tác

Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Tổ chức HĐ 3: (12 phút) Thực hành luyện tập các kiến thức đã hình thành ở hoạt động 2.

………………………….

Mô tả: Giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập trong sách giáo khoa để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng vừa lĩnh hội được.

….

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ

Hoạt động 4: Hoạt động hướng dẫn về nhà, tìm tòi, mở rộng (3 phút).

………………………….

Mô tả: Giáo viên định hướng các nội dung về nhà để học sinh tìm hiểu, mở rộng

Năng lực tự chủ, tự học

Năng lực sử dụng ngôn ngữ

IV. Tự đánh giá về tiết dạy của mình: Mục tiêu đã đạt được, những hạn chế, hướng khắc phục.

Mục tiêu đã đạt được 70%

Hạn chế: Còn chưa dạy hết bài. Hoạt động vận dụng chưa giải quyết được vì dành nhiều thời gian hình thành kiến thức.

Hướng khắc phục: bố trí thời gian hợp lí hơn.

……., ngày …. tháng ….. năm…….

Người trình bày

(Ký, ghi rõ họ tên)

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của Thiquocgia.vn.