Học tậpTài liệu

Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Thái Bình 2021

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2021 Thái Bình
118

Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2021 Thái Bình

Đáp án môn Văn thi vào lớp 10 Thái Bình 2021 – Ngày mai 4/6/2021 học sinh lớp 9 trên địa bàn tỉnh Thái Bình sẽ chính thức bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10 2021 khối trường chuyên. Hoatieu xin chia sẻ đến các bạn chi tiết đề thi vào lớp 10 tỉnh Thái Bình môn Văn cũng như đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Thái Bình 2021 trường chuyên để các bạn học sinh tham khảo sau khi kết thúc kỳ thi.

1. Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 chính thức của tỉnh Thái Bình 2021

Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 chính thức của tỉnh Thái Bình 2021

Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 chính thức của tỉnh Thái Bình 2021

Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 chính thức của tỉnh Thái Bình 2021

2. Đề thi Văn vào lớp 10 2021 Thái Bình

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÁI BÌNH

ĐỀ CHÍNH THỨC

(Để gồm 01 trang)

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2021-2022

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

Mẹ

Viễn Phương

(1) Con nhớ ngày xưa mẹ hát:

… “Hoa sen lặng lẽ dưới đầm

Hương bay dịu dàng bát ngát

Thơm tho không gian thời gian…”.

(2) Mẹ nghèo như đóa hoa sen

Năm tháng âm thầm lặng lẽ

Giọt máu hòa theo dòng lệ

Hương đời mẹ ướp cho con.

(3) Khi con thành đóa hoa thơm

Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,

Con đi… chân trời gió lộng

Mẹ về… nắng quải chiều hôm.

(4) Sen đã tàn sau mùa hạ,

Mẹ đã lìa xa cõi đời.

Sen tàn rồi sen lại nở

Mẹ thành ngôi sao lên trời .

Dẫn theo Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Giáo dục Việt Nam, 1999, trang 17.

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên.

Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong hai câu thơ:

“Sen đã tàn sau mùa hạ

Mẹ đã lia xa cõi đời”.

Câu 3. (4,0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai câu thơ

“Khi con thành đóa hoa thơm

Đời mẹ lắt lay chiếc bóng”

Câu 4. (2,0 điểm) Từ khổ thơ thứ 2, em cảm nhận được gì về cuộc sống và phẩm chất của người mẹ? (Trình bày khoảng 3 – 5 dòng).

PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Câu 1: Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm ở mỗi người.

Câu 2. (5,0 điểm) Trình bày cảm nhận của em về nhân vật Phường Định trong đoạn trích sau:

“Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nông. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhỏ có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.

Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng… “

Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất đưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm qúa chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng. Chị Thao thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi. Dây mìn dài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mình. Hồi còi thứ hai của chị Thao. Tôi nép người vào bức tường đất, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi cũng đập không rõ. Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom…

Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng vột cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách vào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng.”.

(Trích Những ngôi sao xa xôi, Lệ Minh Khuê, 49 Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, trang 117,118)

3. Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Thái Bình 2021

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2:

Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong câu:

“Sen đã tàn sau mùa hạ

Mẹ đã lìa xa cõi đời”

là cụm từ “lia xa cõi đời” ý nói đến cái chết.

Câu 3:

Học sinh trình bày theo ý hiểu của mình, lý giải

– Đóa hoa thơm ý chỉ những thành quả, sự thành công trong cuộc sống.

– Chiếc bóng: Sự vô hình không tồn tại, âm thầm lặng lẽ. -> Sự hi sinh của người mẹ là vô tận, người mẹ hi sinh suốt cả cuộc đời cho con mình không một lời than vãn. Đến khi con thành công thì cũng là lúc người mẹ bước sang độ tuổi xế chiều, trở về với cát bụi.

Câu thơ gửi gắm thông điệp: Hãy yêu thương mẹ khi còn có thể.

Câu 4:

Học sinh trình bày theo cảm nhận của mình

Gợi ý:

– Cuộc sống của người mẹ được hiện lên đầy rẫy những khó khăn vất vả.

– Phẩm chất của người mẹ: Sự yêu thương che chở, hi sinh, sự vị tha, chắt chiu những gì tốt đẹp nhất dành cho con

II. LÀM VĂN

Câu 1:

I. Mở đoạn:

– Giới thiệu về sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm trong cuộc sống của mỗi người.

II. Thân đoạn:

1. Giải thích:

Sống có trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đầy trách nhiệm cho người khác.

2. Biểu hiện của tinh thần trách nhiệm:

– Đối với học sinh: trách nhiệm của chúng ta là học tập thực tốt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của nhà trường, có tinh thần yêu nước, chăm lo học tập,….

Có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, những người xung quanh

– Đối với một người công chức: thực hiện đúng nhiệm vụ của Đảng và nhà nước gia cho, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho.

– Đối với công dân: thực hiện tốt quy định của nhà nước, của pháp luật, có trách nhiệm với gia đình và mọi người xung quanh.

3. Sự cần thiết của của lối sống có trách nhiệm:

– Sống có trách nhiệm là một chuẩn mực để đánh giá nhân cách, sự trưởng thành của một người

– Là một nét sống đẹp, là phẩm chất cần có của những người trẻ hiện đại.

– Là hành động khẳng định giá trị bản thân, dấu hiệu cơ bản, quan trọng của việc hòa nhập với cộng đồng, giúp cho cuộc sống chung trở nên tốt đẹp hơn.

4. Ý nghĩa của lối sống có trách nhiệm:

– Hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ

– Được mọi người xung quanh quý mến và yêu quý

– Được lòng tin của mọi người

– Thành công trong công việc và cuộc sống

5. Phản đề

– Những người có lối sống ích kỉ, không có tinh thần trách nhiệm,…

III. Kết đoạn:

Nêu cảm nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống

– Tinh thần trách nhiệm là một đức tính tốt đẹp

– Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm

Câu 2: 

1. Mở bài:

– Giới thiệu vài nét về tác giả Lê Minh Khuê và truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi.

– Giới thiệu khái quát về đoạn trích và tâm lý của nhân vật Phương Định trong một lần phá bom.

2. Thân bài:

Giới thiệu nội dung đoạn trích và nêu cảm nhận chung về tâm lý của nhân vật Phương Định trong một lần phá bom.

– Tâm lí của nhân vật Phương Định trong một lần phá bom:

+ Không gian xung quanh: Vắng lặng đến phát sợ khói đen vật vờ từng cụm máy bay ẩm ẩm ở xa…Câu ngắn gợi hoàn cảnh khốc liệt của chiến trường.

+ Mặc Phương Định đã ” quen rồi”. Mỗi ngày phá bom 5 lần ngày nào ít thì 3 lần, nhưng khi đến gần quả bom vẫn thấy sợ -> Lòng tự trọng khiến cố vượt lên trên nỗi sợ hãi” cảm thấy ánh mắt chiến sĩ đang dõi theo minh tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom. Khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới” -> Cảm giác rất chân thực Phương Định sẵn sàng đối mặt với công việc một cách tự tin đầy kiêu hãnh.

– Khi thực hiện các thao tác phá bom.

+ Mọi công việc cô làm được miêu tả hết sức tỉ mỉ chân thực cụ thể mọi cảm giác của Phương Định trở lên sắc nhọn: “Thỉnh thoảng lưới xẻng chạm vào quả bom một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng một dấu hiệu chẳng lành”.

+ Kề bên cái chết im lìm bất ngờ hiểm nguy có thể đến ngay tức khắc cô đã cảm nhận chính xác trong từng thao tác chạy đua với thời gian vượt qua thần chết: Đào đất đặt gói thuốc mìn bên cạnh quả bom dòng dây cháy chậm châm ngòi trở về chỗ ẩn nấp.

– Lúc chờ quả bom nổ: Cảm giác căng thẳng chờ đợi đến nghẹt thở cô nghe thấy các tiếng tích tắc của đồng hồ đẻ nên những con số vĩnh cửu, cô có nghĩ đến một cái chết nhưng mờ nhạt điều quan trọng với cô là liệu mìn có nổ không, bom có nổ không, không thì làm thế nào để châm min lần hai -> Đó là lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm cao, luôn hoàn thành trách nhiệm tốt dù có phải hi sinh suy nghĩ ấy đã truyền cho người đọc cảm xúc yêu quý khâm phục, trân trọng Phương Định nói riêng và các cô gái Thanh niên xung phong nói chung, khao khát chữa lành những vết thương chiến tranh để thông đường cho ô tô vượt Trường Sơn tiến thẳng vào Miền Nam đánh Mĩ.

– Khi bom nổ: “Một thứ tiếng kì quái đến vang óc” ngực tôi nhói, mắt cay mãi mới mở ra được, mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo” Cô và đồng đội đã chiến thắng mảnh bom xe không khí lao và rất vô hình trên đầu trong trận phá bom ấy, một đồng đội của cô là Nho đã bị thương chứng tỏ sự mất mát hi sinh các cô phải gánh chịu nhưng trên hết các cô nói chung và Phương Định nói riêng thật gan góc kiên cường đầy bản lĩnh.

-> Có thể nói, xây dựng nhân vật Phương Định, Lê Minh Khuê đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lí khi nhà văn đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Nhờ vậy, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật – tâm lí Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung, nữ tính…

3. Kết bài:

– Nêu đánh giá, cảm nhận của em về tâm lý của nhân vật Phương Định trong một lần phá bom. – Liên hệ vai trò của tuổi trẻ hiện nay trong việc bảo vệ đất nước.

4. Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2021 chuyên Thái Bình

5. Đáp án đề thi vào lớp 10 Văn chuyên Thái Bình 2021

Đáp án đề thi chung

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2:

Hai từ láy được sử dụng: chang chang, lênh đênh

Câu 3:

Học sinh có thể trình bày theo ý hiểu, có lý giải. Hình ảnh mẹ Suốt được hiện lên thông qua hai câu thơ trên: Là một người phụ nữ anh hùng, kiên cường, yêu nước, không kể tuổi tác vẫn cống hiến hết mình cho Tổ quốc.

Câu 4:

Học sinh trình bày theo cảm nhận của mình, có lý giải.

Tình cảm:

– Sự yêu thương, kính trọng mà tác giả dành cho mẹ Suốt.

– Lòng biết ơn, sự cảm phục trước tấm lòng yêu nước của mẹ.

II. LÀM VĂN

Câu 1:

I. Mở đoạn

Giới thiệu vấn đề

II. Thân đoạn

1. Giải thích và nêu biểu hiện của tinh thần tự học

– Tự học là ý thức tự rèn luyện tích cực để thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng cho bản thân.

->Khẳng định sự cần thiết của tự học trong cuộc sống: Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng: khi nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân. Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo… Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học vấn là quan trọng nhất.

2. Bàn luận về tinh thần tự học

a. Phân tích sự cần thiết của tự học trong cuộc sống:

– Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công việc này. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống.

– Không những thể tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân .

– Tự học là một công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì. Càng cố gắng tự học con người càng trau dồi được nhân cách và tri thức của mình. Bù lại, phần thưởng của tự học thật xứng đáng: đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khi ta chiếm lĩnh được tri thức.

– Biết bao những con người nhờ tự học mà tên tuổi của họ được tạc vào lịch sử. Hồ Chí Minh, Macxim Gorki, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền… Nhờ tự học họ đã trở thành những bậc hiền tài, làm rạng danh cho gia đình, quê hương, xứ sở.

– Người học sinh có biện pháp tự học là biết làm chủ lấy mình b. Bên cạnh những tấm gương tốt về tinh thần tự học, chúng ta cần phê phán những tư tưởng sai lệch. Luôn ý lại, ù lì, lười nhác, không có ý chí, nghị lực, học tới đâu hay tới đó.

3. Bài học nhận thức và hành động

Tự học có ý nghĩa quan trọng nên bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tảng của sự say mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức.

– Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập trong học tập. Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hoài bão của mình.

III. Kết đoạn

– Đánh giá chung về sự cần thiết của tự học. Cảm nghĩ của bản thân.

Câu 2:

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Y Phương (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,…)

– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Nói với con” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,…).

– Giới thiệu khái quát về đoạn thơ và “người đồng minh”. ‘

2. Thân bài

a. Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ ước:

– Người đồng minh không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:

+ Với cách nói “Người đồng minh thương lắm con ơi!” người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng minh đã trải qua.

+ Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.

+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ. => Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.

b. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn:

“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chế thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”.

+ Phép liệt kế với những hình ảnh ẩn dụ “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” -> gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc.

+ Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ.

-> Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương.

+ Điệp ngữ “sống”, “khống chế” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh: Người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm. Người đồng mình chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả.

+ Phép so sánh “Sống như sống như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng minh. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.

c. Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc:

– Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi:

“Người đồng minh thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”

+ Lời thợ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.

+ Cụm từ “thổ sợ da thịt” là cách nói cụ thể về những con người mộc mạc, giản dị.

+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.

-> Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí.

– Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng minh còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng xây dựng quê hương:

“Người đồng minh tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”.

+ Lối nói đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sấu xa.

+ Hình ảnh “Người đồng minh tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chỉ truyền thống làm nhà kế đá cho cao của người miền núi), vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Người đồng mình đã tự tay xây dựng nên truyền thống quê hương đẹp giàu, sánh tầm với các miền quê khác trên mảnh đất hình chữ S thân yêu.

+ Câu thơ ngầm chứa niềm tự hào kiêu hãnh bởi họ vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.

->Với thể thơ tự do, giọng điệu khỏe khoắn vừa tâm tình tha thiết vừa chứa chan hi vọng cùng những hình ảnh, từ ngữ mộc mạc, cụ thể -> nhà thơ nói với con về những vẻ đẹp của người đồng minh để rồi từ đó truyền cho con lòng tự hào về quê hương, dân tộc, nhắn nhủ con biết sống đẹp, biết vượt qua gian khó bằng niềm tin, ý chí như người đồng mình.

3. Kết bài

Khái quát về những vẻ đẹp cơ bản của “người đồng minh”, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nếu cảm nghĩ của bản thân.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của Thiquocgia.vn.