Tài liệuThơVăn học

Vẻ đẹp người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng (4 mẫu)

Hình ảnh người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng
158

Hình ảnh người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng

Bài thơ Tỏ lòng hay còn có tên gọi khác là Thuật hoài là một trong những bài thơ nổi tiếng của Phạm Ngũ Lão. Đọc tác phẩm Tỏ lòng chúng ta có thể cảm nhận được hình ảnh những tráng sĩ thời Trần với khí phách hiên ngang, tinh thần bất khuất. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ một số mẫu cảm nhận về hình ảnh người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng hay và đầy đủ nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

1. Dàn ý cảm nhận về vẻ đẹp của người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng

1.Mở bài:

Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng. Trong bài thơ, nổi bật hơn cả là chân dung vẻ đẹp của người tráng sĩ với lí tưởng, khát khao lớn.

2. Thân bài:

a. Hoàn cảnh sáng tác:

+ Được sáng tác sau những chiến thắng vẻ vang của quân và dân nhà Trần với quân Mông Nguyên xâm lược.

+ Bài thơ làm sống dậy khí thế thời đại và tái hiện chân dung trang nam nhi với chí khí lớn.

b. Hào khí qua con người và hình ảnh quân đội nhà Trần

* Con người thời Trần với chí khí.

– Tư thế “hoành sóc”: có nghĩa là “cắp ngang ngọn giáo”. Câu thơ cho thấy sự vững trãi, uy nghi của người lính.

+ Bản dịch thơ dịch “múa giáo”: Thiên về phô trương biểu diễn nên không khẳng định được vẻ đẹp chủ động nơi con người khi thế.

– Không gian “giang sơn”: không gian rộng lớn phù hợp với khí thế, với sự đề cao vẻ đẹp con người giữa môi trường rộng lớn.

– Thời gian “kháp kỉ thu”: mấy thu. Thời gian đã trôi qua rất nhiều năm, khẳng định được sự bền vững của khí thế nơi con người qua năm tháng.

⇒ Con người trở nên lớn lao để sánh ngang tầm vũ trụ.

* Sức mạnh của quân đội nhà Trần

– “Tam quân”: tiền quân, trung quân, hậu quân, lực lượng lớn mạnh mang theo tầm vóc.

– Quân đội hùng mạnh được so sánh với “tì hổ” – hổ báo

Hình ảnh “khí thôn ngưu”: sức mạnh lớn lao.

→ Hình ảnh phóng đại đã thể hiện sự ngợi ca, tự hào về sức mạnh, khí thế của quân đội nhà Trần.

Hào khí Đông A đã làm sống dậy hình ảnh con người với sức mạnh lớn lao để tạo nên hào khí dân tộc hào hùng. Đó còn là sự tự hào của tác giả về sức mạnh và chiến công của dân tộc.

c. Nỗi thẹn của tác giả và chí làm trai lớn lao.

– Nợ công danh: món nợ lớn mà một trang nam nhi theo quan niệm Nho giáo.

Trang nam nhi cần lập công và lập danh thì mới xứng đáng trong cuộc đời này.

– Phạm Ngũ Lão quan niệm: người nam nhi sống trên trời đất này mà không lập được công danh sự nghiệp thì thấy thẹn lòng, xấu hổ.

+ Thẹn: thua kém, xấu hổ vì chưa có sự cống hiến cho quốc gia, dân tộc.

+ Vũ Hầu: Khổng Minh- tấm gương sáng về con người với sự cống hiến cho Lưu Bị, góp phần đựng xây cuộc sống cho nhân dân có ý nghĩa.

+ Phạm Ngũ Lão: Con người từ thuở hàn vi đã lo cho dân, cho nước, làm những chức vị lớn lao nhưng vẫn thấy hổ thẹn, xấu hổ vì đóng góp của mình là nhỏ bé.

Đó là khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng lớn giúp vua, giúp nước.

d. Khái quát nội dung, nghệ thuật.

– Nghệ thuật: Sử dụng điển cố “thuyết Vũ Hầu” lời thơ mang theo hào khí lớn lao, so sánh, liên tưởng giàu sức gợi.

Nội dung: khắc họa chân dung con người thời Trần, quân đội thời Trần với khí thế, sức mạnh lớn lao. Và từ đó, làm sống dậy nỗi thẹn trong kẻ làm trai vì chưa đóng góp được cho dân tộc va người làm trai phải xấu hổ mà lắng nghe bậc tiền nhân.

3. Kết bài

Tỏ lòng là tiếng thơ bày giãi bày tấm lòng của kẻ làm trai. Chân dung tinh thần của người tráng sĩ hiện lên trong cảm hứng yêu nước thiết tha, tự hào và mỗi người cần phải trân trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang ấy.

2. Phân tích hình ảnh người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng

Phạm Ngũ Lão xuất thân bình dân nhưng có tài kiêm văn võ. Tương truyền, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trẩy quân dẹp giặc Nguyên – Mông đã gặp ông. Bấy giờ Phạm Ngũ Lão đang ngồi giữa đường đan sọt. Quân lính của Vương quát dẹp đường, ông vẫn không nghe thấy, lấy giáo đâm vào đùi chảy máu mới sực tỉnh. Bởi Phạm đang mãi nghĩ tới “nợ công danh”, đem tài năng của mình ra thi thố dẹp giặc giúp nước. Được Hưng Đạo Vương thu nhận làm tì tướng, Phạm tỏ rõ tài năng, lập nhiều công trạng, là một trong những người anh hùng lừng lẫy thời Trần.

Thuật hoài là bài thơ tỏ lòng. Thơ tỏ lòng dưới các tên thuật hoài, ngôn chí, cảm hoài là lối thơ quen thuộc xưa. Nó tập trung bày tỏ chí hướng, khí phách của “chí làm trai”. Ấy là cái “nợ công danh”, cái nợ lập thân với nước, với vua để tự khẳng định mình.

Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm từng tuyên ngôn: “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa…”, Nguyễn Công Trứ cũng nói tới “Chí anh hùng”, tỏ rõ “đã sinh ra ở trong trời đất ; phải có danh gì với núi sông”… Tuy nhiên căn cứ vào từng bài, ứng với từng người, từng thời, tác phẩm có thể chỉ là một kiểu cách sách vở, nói cho có “khẩu khí” vậy thôi. Một số khác thoạt nhìn cũng nằm trong khuôn khổ này nhưng chính là tâm sự thật, là niềm day dứt máu thịt, là khát vọng sống cao đẹp của một con người, một thế hệ ở thời đại mình. Vì thế, hình ảnh và khí phách của nhân vật trữ tình trong những tác phẩm cũng rất khác nhau, tạo nên ở người đọc sự rung cảm khác nhau. Chẳng hạn ở Đặng Dung (người cuối triều Trần) là vẻ bi tráng: “Thù nước chưa xong đầu vội bạc; Mấy độ mài gươm dưới bóng trăng”. Nguyễn Công Trứ là sự cao ngạo nhưng xót xa thân phận, dẫu là thân phận anh hùng.

Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão – Chàng nam tử trong bài thơ này đặt trong hệ thống “tỏ lòng” có một vẻ đẹp, khí phách riêng. Đấy chính là cái lẽ làm bài thơ qua nghìn năm vẫn tồn tại, xúc động lòng người.

Điểm thứ nhất, bài thơ không phải là khẩu khí của một người mà là khẩu khí của cả một thời đại. Thời đại “Hào khí Đông A”. Bằng cách này, cách khác nhiều người trong thời Trần lúc bấy giờ đã nói như thế. Trần Thủ Độ: “Nếu bệ hạ muốn hàng thì trước hết phải chém đầu thần đã”. Trần Quang Khải: “Chương Dương cương giáo giặc; Hàm tử bắt quân thù”. Trần Nhân Tông: “Xã tắc hai phen bon ngựa đá; Non sông nghìn thủa vững âu vàng”.

Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là một tiếng nói, không phải tiếng nói của chủ soái mà tiếng nói của một người, của thế hệ tuổi trẻ sống trong sự nghiệp chống ngoại xâm, muốn đóng góp sức mình, để lại tuổi tên trong sự nghiệp ấy.

Điểm thứ hai, chí khí, khát vọng công danh của Phạm Ngũ Lão cất lên qua bài thơ là sự thúc dục từ sự nghiệp chung, oai hùng lừng lẫy. Nó được minh chứng bằng chiến công của chính bản thân ông. Đó không phải là thứ “khẩu khí hão”, tỏ lòng theo công thức.

Sự hoà hợp, tương ứng giữa thời đại và cá nhân làm cho bài thơ hùng tráng mà chân thực.

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh suốt sao ngưu.

Dẫu được hiểu “cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước vừa mấy thu ; ba quân dũng mãnh như hổ báo, khí thế nuốt được cả trâu” hay “nuốt sao Ngưu” thì câu thơ cũng đều muốn dựng lại bối cảnh, hiện thực xã hội rộng lớn. Đó là hình ảnh, là bức tranh hoành tráng của sự nghiệp đánh giặc thời Trần. Phân tích bức tranh này, chúng ta thấy có nhiều tầng hình ảnh với cách thức “dựng tranh” rất nghệ thuật.

Cả hai câu thơ đầu này là cái nền rộng: hào khí đánh giặc của một dân tộc trong đó có người chiến sĩ và có cả đoàn quân. Hào khí ấy được tập trung miêu tả ở hình ảnh tiêu biểu nhất, thể hiện khí phách anh hùng nhất “múa giáo”. “Múa giáo non sông trải mấy thu – Ba quân Như vậy, cả “ba quân” cùng múa giáo, cùng ra trận. Song thu lại thành điểm là hành động của người chiến sĩ. Câu thơ dựng lên trựớc mắt ta hình ảnh “một tráng sĩ múa gươm” xung trận trên cái nền “ba quân đậy hào khí giết giặc” kia. Câu thơ từ “điểm” mởrộng ra. Hoặc ngược lại, mở ra rất rộng, thu hẹp dần rồi thu thành một “điểm” (Tráng sĩ anh hùng – đội quân tráng sĩ – Ba quận, dân tộc hoặc Ba quân, dân tộc – đội quân tráng sĩ – tráng sĩ anh hùng) khiến cho chỉ hai câu thơ mà trường diễn tả rất rộng, trường cảm xúc rất mãnh liệt, sâu sắc. Câu thơ tượng trưng nhưng lại rất thực. Cái thực của thời đại ở thế hệ trẻ tuổi, ở mỗi cá nhân.

Hai câu thơ cuối cùng, hình ảnh Người tráng sĩ không còn hiện lên “trông thấy nữa”. Nó được biểu hiện qua tâm sự, suy nghĩ:

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.

Ởđây có một quan niệm nhân sinh quen thuộc của những con người có chí khí thời phong kiến. Làm thân con trai cái nợ công danh là cái nợ phải trả. Công danh là sự nghiệp và tiếng thơm. Nó còn tỏ rõ sự phân biệt nam – nữ trong đó, song không phải là tiêu cực. Khi một thế hệ “lo” những điều như thế. Và nợ công danh có một khuôn mâu mà học theo, vươn tới: gương Vũ hầu – Gia Cát Lượng.

Trên cái nghĩa chung này là hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Phạm Ngũ Lão. Với nhà thơ – người anh hùng họ Phạm, công danh – chí làm trai – gắn vớisự đóng góp, xả thân cao nhất, ích lợi nhất, nhiều nhất cho đất nước, dân tộc trong công cuộc bảo vệ đất nước. Nỗi niềm canh cánh ấy, cái “thẹn” ấy làm cho con người vươn tới những cái cao đẹp, anh hùng. Nó cũng là sự khích lệ, một tuyên ngôn cho thế hệ và thời đại. Bản dịch nghĩa đã dịch “kẻ nam nhi… nên thẹn…” e là người đọc hiểu một ý là “chưa trả xong nợ nam nhi”. Có lẽ phải dịch: “Nam nhi… thì thẹn” để rõ cái ý khuyến cáo, khích lệ, hướng tới cả một thế hệ lúc bấy giờ.

Hai câu thơ do vậy cỏ vẻ đẹp của khát vọng lập công, đóng góp, hi sinh cho dân tộc đất nước.

Bài thơ 4 câu 28 chữ đã dựng lên hào khí của cả một thời đại, một thế hệ và một con người. Nó là sự thể hiện cảm hứng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước mãnh liệt. Dung lượng nhỏ nhưng sức bao quát, hàm chứa trong đó thật lớn lao. Đây là bài thơ điển hình về nội dung, về hình thức của văn học trung đại.

3. Hình ảnh người trai thời Trần trong bài thơ Tỏ lòng

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Phạm Ngũ Lão là tướng đời Trần, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông “đánh đâu thắng đấy”. Ông lo việc binh, đồng thời “lại thích đọc sách, ngâm thơ” . Cũng như nhiều danh tướng đời Trần, Phạm Ngũ Lão vừa cầm quân đánh giặc, vừa viết những áng văn thơ để lại muôn đời. Trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Thuật hoài. Đọc bài thơ này, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng cao cả của người trai đời Trần.

Cũng như Cảm hoài. Ngôn hoài; Thuật hoài là một loại thơ trữ tình “ngôn chí” khá phổ biến trong thơ ca thời trung đại, để bày tỏ những ý nghĩ, những tình cảm lớn của tác giả (Thuật hoài có nghĩa là Tỏ lòng). Đến nay, chúng ta chưa nắm được đích xác hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Tuy nhiên, dựa vào nội dung của tác phẩm có thể khẳng định bài thơ này ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân đời Trần, khi lực lượng của nước Đại Việt đã lớn mạnh nhưng trong chiến đấu chống giặc Nguyên 1 Mông chưa đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bài thơ viết theo thể tứ tuyệt luật Đường, 4 câu, mỗi câu 7 âm tiết. Hai câu đầu được dịch là:

Múa giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu.

Trong nguyên bản, hai câu này là:

Hoành sóc giang san cáp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

“Hoành sóc” được dịch thành “múa giáo” dễ làm cho người đọc hiểu không hoàn toàn đúng. “Hoành sóc” tức là cầm ngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là “cắp ngang ngọn giáo (bảo vệ) non sông đã mấy mùa thu”. Chỉ cần 7 chữ nhưng câu thơ trên đây đã gợi được hình ảnh của người trai đời Trần và cũng chính là của Phạm Ngũ Lão với tư thế hùng dũng, luôn kiên cường, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, lập nên những chiến công huy hoàng. Dẫu họ đã ngoan cường chiến đấu bao năm tháng (“trải mấy thâu” là mấy mùa thu rồi) nhưng vẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất.. Hình ảnh người tráng sĩ càng trở nên chói lọi bởi hùng khí của ba quân. Ba quân chính là hình ảnh của cả thế hệ Phạm Ngũ Lão, của cả dân tộc đang sống trong hào khí Đông A. Sức mạnh của “ba quân” được ví như sức mạnh ghê gớm của hổ báo làm át sao Ngưu. (Còn một cách hiểu khác không kém phần ý nghĩa: sức mạnh của ba quân như hổ báo có thể nuốt trôi được cả trâu). Như vậy, câu thứ nhất nói về cá nhân người trai đời Trần; câu thứ hai nói về dân tộc, về cộng đổng. Cá nhân có vẻ đẹp hiên ngang của đất trời, sông núi, vượt qua mọi thử thách của thời gian, cộng đồng, dân tộc, có tầm vóc và sức mạnh của vũ trụ. Cá nhân với cộng đồng, với dân tộc có quan hệ mật thiết, hài hoà. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng tạo nên khí thế ngất trời của ba quân; đồng thời khí thế của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm lộng lẫy. Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp!

Như vậy, chỉ bằng hai câu thơ, Phạm Ngũ Lão đã phác hoạ thành công tư thế của nhân vật trữ tình 1 chàng trai đời Trấn và tư thế của dân tộc ta trong một thời điểm lịch sử với một tầm vóc lớn và quyết tâm lớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang vẻ đẹp sử thi, tẩm vóc sử thi. Phạm Ngũ Lão không chỉ phát ngôn nhân danh cá nhân mình mà ông còn nhân danh cả dân tộc, cả thời đại.

Hình ảnh người tráng sĩ cắp giáo tung hoành nơi trận mạc, hình ảnh ba quân khí thế ngất trời ta đã gặp nhiều trong văn học trung đại của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. (Chàng chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng từng “Múa gươm rượu tiễn chưa tàn – ngang lưng ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Nói về tướng sĩ trong bài Thập giói cô hòn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông cũng có câu “Miệng thòm thèm giương dạ nuốt trâu – Chí hăm hở dang tay bắt vượn”). Song, nếu ở những câu vừa dẫn là những hình ảnh ước lệ nặng tính chất ngao du khoa trương, thì trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là những hình ảnh tuy cũng thật kì vĩ nhưng là những hình ảnh chân thực, hiện thực, bởi người đọc biết rằng chúng ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng vĩ đại của quân dân ta đời Trần. Tại Hội nghị Bình Than, các bô lão Đại Việt đã nhất tể thể hiện tinh thần ấy. Và mỗi binh sĩ thời ấy đều thích hai chữ “sát thát” (giết giặc Nguyên) vào cánh tay.
Tiếp nối một cách tự nhiên mạch cảm xúc ở hai câu đầu, hai câu sau thể hiện khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước của vị tướng – thi sĩ :

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Người trai đời Trần không chỉ cao đẹp ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, mà còn cao đẹp bởi có một. quan niệm nhân sinh tích cực. Lập công chính là làm nên sự nghiệp lớn trong công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước. Có công thì mới được ghi danh (têii). Mỗi con người chân chính, đặc biệt đối với những người làm trai, niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế là niềm khao khát chính đáng. Đây chính là động lực to lớn để không ít người có sức mạnh vượt, qua những thử thách cam go lập nên những kì tích vang dội, thúc đẩy sự tiến bộ của toàn xã hội. Chính vì the mà sau Phạm Ngũ Lão 6 thế kỉ, Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:

Làm trai sống ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

Và không hiểu tự thuở nào ông cha ta vẫn thường khích lệ cháu con: “Làm trai cho đáng nên trai – Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài tan”. Đây chắc chắn không phải là thói hátn danh phàm tục, trái lại là một quan niệm nhân sinh tiến bộ trong truyền thống dân tộc.

Ở đây, cái hay không chỉ ở nội dung toát ra từ câu thơ của Phạm Ngũ Lão mà còn ở chính con người tác giả. Ta đều biết, viên tướng làng Phù ủng này là người “công danh” lừng lẫy đánh đông dẹp bắc, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cho đến khi tuổi đã cao ông vẫn còn hăng hái cầm quân đánh tan bọn xâm lược quấy rối biên giới phía Tây Tổ quốc, và được phong chức Điện suý thượng tướng quân (1302), được ban tước Quan nội hầu (1318). Thế nhưng, Phạm Ngũ Lão vẫn cảm thấy mình còn “vương nợ” với đời, còn phải “thẹn” khi nghe chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng 1 một nhân vật siêu việt, có công lớn giúp Lưu Bị thời Tam quốc chia ba thiên hạ. Điều này đủ biết khát vọng và nhân cách của tác giả cao cả biết nhường nào? Phải chăng, chính vì ý thức được món nợ chưa trả xong đối với dân tộc, đối với đất nước, chính vì biết “thẹn” trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ – chàng trai đời Trần, người anh hùng Phạm Ngũ Lão với những chiến tích vang dội và với bài Thuật hoài bất hủ này.

Ra đời cách chúng ta đã 7 thế kỉ, song bài Thuật hoài luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn, lay động con tim của bao thế hệ người đọc. Bởi vì, qua bài thơ, độc giả bắt gặp hình ảnh vừa chân thực vừa hoành tráng của người trai thời Trẩn với vẻ đẹp thật là hùng vĩ cao cả.

4. Vẻ đẹp người tráng sĩ trong bài thơ Tỏ lòng

Phạm Ngũ Lão được biết đến là một con người văn võ toàn tài. Nổi bật trong các tác phẩm của ông là bài thơ “Tỏ lòng”. Qua bài thơ này, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp con người và quân đội nhà Trần:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

Trước hết, hình ảnh người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông hiện lên thật đẹp. Khi giặc Nguyên tràn vào xâm lược, chúng đã gây ra bao nhiêu tội ác dã man, tàn bạo. Đối phó với kẻ thù như vậy cần phải có một bản lĩnh phi thường. Cụm từ “hoành sóc” gợi ra hình ảnh người tráng sĩ tay cầm ngọn giáo với tư thế chủ động, tự tin và không hề nhỏ bé. Nhưng trong bản dịch thơ của Trần Trọng Kim lại dịch là “múa giáo” – cách dịch mang tính hoa mỹ, tuy phù hợp với nhịp thơ nhưng không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong. Kết hợp với đó, tầm vóc của người anh hùng còn được thể hiện qua không gian “giang sơn” – đất nước, thể hiện tầm vóc vĩ đại và thời gian “kháp kỉ thu” – mang tính ước lệ, ý chỉ khoảng thời gian kéo dài vô tận. Từ đó, tác giả khẳng định tầm vóc kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ, lấn át cả không gian và thời gian của người anh hùng thời đại nhà Trần. Họ như những dũng tướng uy phong, lẫm liệt.

Không chỉ vậy, câu thơ tiếp theo, Phạm Ngũ Lão còn cho thấy tiềm lực mạnh mẽ của quân đội nhà Trần. “Tam quân” có nghĩa là ba quân (được biết bao gồm tiền quân, trung quân, hậu quân). Một quân đội tinh nhuệ, đông đảo về số lượng và mạnh mẽ về chất lượng. Quân đội đó còn có một khí thế vững vàng. Hình ảnh so sánh rất độc đáo “tam quân” với “tỳ hổ”. Loài hổ được coi là chúa tể rừng xanh, có uy lực và sức mạnh. Với hình ảnh này, tác giả đã nhấn mạnh sự dũng mãnh của quân đội nhà Trần đã trở thành nỗi khiếp đảm của quân thù. Không chỉ vậy, Phạm Ngũ Lão còn làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu”. Đây là hình ảnh gợi ra hai cách hiểu. Khí thế của ba quân hùng mạnh đến nỗi nuốt trôi trâu, hay khí thế hào hùng ngút trời của quân đội nhà Trần đã làm lu mờ ánh sáng của sao Ngưu trên bầu trời. Dù hiểu theo cách nào, ta cũng đều thấy được khí thế hào hùng của quân đội nhà Trần trước kẻ thù xâm lược. Một quân đội như vậy đủ sức để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Như vậy, qua phân tích, với bài thơ Tỏ lòng, Phạm Ngũ Lão đã giúp người đọc thêm hiểu hơn về vẻ đẹp của con người và quân đội nhà Trần, cũng như “hào khí Đông A” vang dội một thời.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của Thiquocgia.vn.

Tham khảo thêm