Dành cho giáo viênTài liệu

Bài tham luận về công tác duy trì sĩ số học sinh

Bài phát biểu về giải pháp duy trì sĩ số học sinh
30

Bài phát biểu về giải pháp duy trì sĩ số học sinh

Bài tham luận về công tác duy trì sĩ số học sinh là mẫu bài phát biểu trong Đại hội chi bộ nhà trường nhằm đưa ra một số giải pháp để duy trì sĩ số trong trường học. Mời quý thầy cô cùng tham khảo.

1. Bài tham luận về công tác duy trì sĩ số học sinh số 1

THAM LUẬN

VỀ CÔNG TÁC DUY TRÌ SỐ LƯỢNG HỌC SINH, NÂNG CAO TỶ LỆ HỌC SINH ĐI HỌC CHUYÊN CẦN, TỪNG BƯỚC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ………….

I. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh hay nghỉ học, đi học không chuyên cần.

Do nhận thức của cha mẹ học sinh. Ngoài những phụ huynh rất quan tâm đến việc học của con em mình vẫn còn một bộ phận không nhỏ phụ huynh còn xem nhẹ việc học, họ chưa nhận thấy được ích lợi lâu dài của việc học tập của con em mình. Nhiều phụ huynh còn có tư tưởng trông chờ, phó mặc con em mình cho nhà trường, lên nương, lên lán ở….

Một số gia đình đông con đi học, hoàn cảnh kinh tế khó khăn phải lo cuộc sống gia đình, chưa phối hợp tốt với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm trong việc quản lí học sinh tự học ở nhà (Đa số học sinh hay nghỉ học là con em trong gia đình nghèo, thiếu sự quan tâm, học sinh nghỉ học ở nhà giúp đỡ công việc cho gia đình). Có một số phụ huynh chỉ nghĩ cho con đi học để được nhận phụ cấp hàng tháng.

Do phong tục tập quán, tín ngưỡng của một số dân tộc trên địa bàn như: dân tộc Mông, Dao theo đạo thường nghỉ tết Noel, dân tộc Hoa thường ăn tết nguyên đán đến hết rằm tháng giêng, tổ chức việc hiếu, hỉ của một số dân tộc kéo dài nhiều ngày làm ảnh hưởng đến việc duy trì số lượng học sinh đi học chuyên cần.

Các em học sinh tiểu học hầu hết là còn nhỏ, đang tuổi ăn tuổi chơi và rất ham chơi; nhất là các trò chơi điện tử,… Các em chưa ý thức được mục đích học của mình để làm gì? Các em dễ bị bạn bè lôi kéo, rủ rê vào những trò chơi; kích động nghỉ học để đi chơi. Hơn nữa, cha mẹ các em ít quan tâm nhắc nhở nên thỉnh thoảng cũng vắng một số buổi học.

Một số giáo viên ch­ưa thật sự gần gũi với học sinh, ch­ưa hiểu biết nhiều về tập quán thói quen và lối sống của ngư­ời đồng bào; ngôn ngữ bất đồng. Mặt khác do ph­ương pháp dạy học ch­ưa phù hợp: một số giáo viên ch­ưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chưa biết cách tạo hứng thú học tập cho học sinh dân tộc. Dẫn đến tiết học ch­ưa sinh động, nhàm chán, làm cho các em không thích học, từ đó xảy ra tình trạng học sinh vắng học.

Một số học sinh học lực yếu kém thường bi quan trước lực học của mình, thiếu niềm tin vào khả năng học tập, không theo kịp chương trình, thua kiến thức bạn bè dẫn đến tâm lý muốn nghỉ học. Một số em nghỉ học do ốm đau, bệnh tật.

Một số học sinh khác thì gặp khó khăn về phương tiện đi lại do nhà xa, đường đi học phải qua nhiều đồi dốc, khe suối hiểm trở đặc biệt là mùa mưa nên cũng hay nghỉ học hoặc các em chỉ đến trường học buổi sáng, buổi trưa về nhà ăn cơm, buổi chiều nghỉ ở nhà không đến lớp nữa.

Do sự thiếu quan tâm đôn đốc của chi hội, đoàn thể tại bản. Chính quyền một số bản chưa nhiệt tình trong công tác vận động học sinh ra lớp, ch­ưa phê bình nhắc nhở thư­ờng xuyên tr­ước cộng đồng, chư­a nghiêm khắc đối với những gia đình có con em vắng, bỏ học. Các ban ngành đoàn thể đóng chân trên địa bàn còn chưa dành nhiều sự quan tâm đến công tác vận động học sinh ra lớp và đi học chuyên cần.

Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn, nhiều phòng học tạm, nhiều điểm trường chưa có hàng rào bảo vệ, sân chơi và các phòng chức năng chưa có; các thiết bị phục vụ hoạt động NGLL còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học, vì thế chưa tạo được hứng thú cho học sinh khi đến lớp, đến trường.

Trên đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh hay nghỉ học, đi học không chuyên cần của nhà trường trong những năm học qua. Nếu không từng bước hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng học sinh vắng học thì không thể nâng cao chất lượng giáo dục học sinh và như vậy cũng có nghĩa là mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ của nhà trường không thể hoàn thành được.

II. Các giải pháp thực hiện trong công tác duy trì số lượng học sinh, nâng cao tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

Với nhiệm vụ trên ban giám hiệu nhà trường đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm duy trì tốt số lượng học sinh, hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng học sinh đi học không chuyên cần, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường:

1. Nhà trường thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước cho nhân dân, phụ huynh học sinh, học sinh để mọi người hiểu được ích lợi của việc học tập và tự giác nhắc nhở quan tâm, đưa con em tới lớp, tới trường thông qua các buổi họp phụ huynh đầu năm học, cuối học kỳ I, sơ kết học kỳ I, họp bản,…

2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đoàn kết, nhất trí, thương yêu tôn trọng học sinh, đối xử công bằng, gần gũi với học sinh. Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp:

– Thường xuyên thăm hỏi gia đình học sinh để nắm bắt tâm tư tình cảm của các em, nắm bắt hoàn cảnh gia đình từng học sinh để kịp thời động viên giúp đỡ các em, đồng thời vận động cha mẹ học sinh quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt hơn cho con em mình học tập.

– Tìm hiểu nắm bắt nguyên nhân tại sao học sinh vắng học hàng ngày trên lớp; trực tiếp đến nhà những học sinh vắng học để tìm hiểu lý do và thông báo việc vắng học trong ngày của học sinh cho cha mẹ học sinh biết.

– Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các tổ chức đoàn thể, hội CMHS trong bản để thực hiện công tác vận động học sinh ra lớp.

– Gần gũi với đồng bào, đi sâu đi sát với quần chúng để tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống của đồng bào.

– Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, dạy học theo hướng phân loại cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh trong lớp, đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh, xây dựng môi trường học tập thân thiện tại các điểm trường nhằm thu hút học sinh yêu thích đến lớp. Sử dụng hiệu quả phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực, động viên, khen thưởng kịp thời; nghiêm khắc mà gần gũi với học sinh.

– Tăng cường sử dụng đồ dùng, thiết bị (nhất là ứng dụng CNTT) trong giảng dạy để thu hút học sinh trong quá trình dạy học.

– Thương yêu, quan tâm và gần gũi với học sinh; coi học sinh như con của mình, luôn động viên khuyến khích các em trong quá trình học tập; tạo điều kiện cho các em chủ động tham gia quá trình tiếp thu kiến thức. Tổ chức nấu ăn trưa cho học sinh tại bản đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp học sinh ăn ngon miệng, có sức khỏe tốt.

– Tích cực học tập tiếng địa phương để thuận lợi cho việc giao tiếp, trao đổi với người địa phương và phục vụ giảng dạy.

3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường trong công tác tuyên truyền,vận động, thu hút học sinh đến trường:

– Nhà trường phối hợp với Công đoàn, Đoàn TN, Đội TN tổ chức các buổi tuyên truyền và vận động học sinh ra lớp. Công đoàn nhà trường tuyên dương những cá nhân có biện pháp vận động và duy trì sĩ số học sinh tốt.

– Công đoàn, đoàn thanh niên thường xuyên thực hiện công tác thăm gia đình, đến nhà vận động học sinh hay nghỉ học ra lớp;

– Công đoàn phối hợp với nhà trường, Chi đoàn và Đội thiếu niên tổ chức các phong trào văn nghệ, thể thao; tổ chức các đợt sinh hoạt tập thể để thu hút học sinh tới trường như hội thi ” Ươm mầm tài năng nhí”, hội thi Viết chữ đẹp cấp trường, các câu lạc bộ văn nghệ, TDTT học sinh.

4. Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên:

– Nắm bắt kịp thời tình hình nghỉ học hàng ngày của học sinh các lớp để có biện pháp chỉ đạo giáo viên kịp thời;

– Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác dạy-học của từng lớp; tư vấn giúp đỡ giáo viên chủ nhiệm đưa ra các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, hướng dẫn giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục để thu hút học sinh;

– Tiến hành kiểm tra, bàn giao số lượng, chất lượng học sinh đầu năm, thực hiện việc ký cam kết chất lượng với từng giáo viên, là căn cứ để đánh giá xếp loại nhà giáo và bình xét thi đua cuối năm.

– Chỉ đạo cụ thể các hoạt động dạy-học, tăng cường công tác dự giờ thăm lớp; góp ý giúp đỡ giáo viên về công tác chuyên môn; chỉ đạo giáo viên thực hiện giảng dạy theo đối tượng học sinh, thường xuyên phụ đạo HS chưa hoàn thành môn học và các hoạt động GD vào các buổi chiều, giúp đỡ những học sinh khó khăn trong học tập; tập trung dành nhiều thời gian để ôn luyện kiến thức Toán, Tiếng Việt cho học sinh; tổ chức các hội thi liên quan đến môn học (Trạng nguyên Tiếng Việt; viết chữ đẹp,ươm mầm tài năng nhí);

– Quan tâm hỗ trợ về vật chất đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh diện bán trú. Trong học kỳ I nhà trường thường xuyên thăm hỏi, hỗ trợ bằng vật chất đối với những học sinh bị tai nạn, ốm đau dài ngày; 04 học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập được trao học bổng với tổng trị giá gần chục triệu đồng. Học sinh có hoàn cảnh khó khăn của trường được các tổ chức từ thiện, các nhà hảo tâm tặng ti vi, quần áo, chăn, đệm, bình lọc nước, đồ dùng học tập,.. có giá trị lớn. Đặc biệt, trong năm học này gần 300 học sinh của trường tại 11 điểm trường được các nhà hảo tâm hỗ trợ tiền ăn trưa mỗi bữa trị giá 8.500 đồng. Đây là các nguồn lực có vai trò, ý nghĩa quan trọng giúp gia đình học sinh giảm bớt gánh nặng kinh tế, học sinh có điều kiện được chăm sóc tốt hơn về tinh thần và vật chất.

– Duy trì tôt mô hình của trường PTDTBT để đảm bảo mọi chế độ quyền lợi cho giáo viên và học sinh. Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với học sinh diện bán trú.

– Tạo cảnh quan trường học theo hướng: xanh, sạch, đẹp. Tăng cường việc tu sửa cơ sở vật chất các phòng học đã cũ, làm mới các phòng học cho các điểm trường đảm bảo cho việc dạy- học và tổ chức các hoạt động giáo dục ( năm học 2018- 2019 nhà trường được nhà nước đầu tư làm mới 03 phòng học cấp IV tại điểm trường trung tâm; Được các tổ chức, cá nhân sống trong nước và nước ngoài đầu tư xây dựng mới 11 phòng học, 03 phòng ở GV, 02 nhà bếp, 02 nhà vệ sinh và một số dụng cụ, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời tại các điểm trường Nậm Xả, Huổi Pinh, Nậm Pan 1, Nậm Hà. Qua đó giúp học sinh được học tập, vui chơi trong môi trường tốt hơn từ đó các em yêu thích đến trường hơn.

– Chỉ đạo giáo viên TPT đội phối hợp cùng GVCN tổ chức các hoạt động NGLL, sinh hoạt tập thể, giao lưu văn nghệ, thể thao cho học sinh;

– Quán triệt GV trong quá trình giảng dạy phải tạo không khí vui tươi thân thiện với các em, không đặt nặng vấn đề kiến thức hoặc yêu cầu phải hiểu hết nội dung bài học, cần tạo cho học sinh hứng thú khi đến trường và học bài.

– Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, thường xuyên quan tâm động viên giáo viên thực hiện tốt nội quy, quy định của ngành, của trường, giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả. Xử lý nghiêm những giáo viên vi phạm nội quy, quy chế chuyên môn của nhà trường.

5. BGH nhà trường tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương, cùng với các ban ngành đoàn thể, các đơn vị trường trên địa bàn xã làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, tuyên truyền tới nhân dân các bản cho học sinh đến trường, đến lớp. Phối hợp với nhà trường trong việc vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số. Xây dựng quỹ khuyến học của xã để động viên khen thưởng những học sinh đạt nhiều thành tích trong học tập đồng thời tuyên dương những gia đình có con em học giỏi, chuyên cần trong học tập.

6. BGH nhà trường đã tham mưu với chính quyền, đoàn thể của bản vận dụng các biện pháp duy trì sĩ số học sinh:

+ Thường xuyên vận động nhắc nhở học sinh ra lớp. Quán triệt từng gia đình yêu cầu và vai trò, sự cần thiết của việc học tập văn hóa; nêu gương và nhân rộng các điển hình về gia đình hiếu học;

+ Tổ chức họp bản, phê bình những hộ gia đình có con em hay nghỉ học;

+ Phối hợp với thầy cô giáo trong việc vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số.

Trên đây là báo cáo tham luận về công tác duy trì tốt số lượng học sinh, nâng cao tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục của trường ………….. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đơn vị trường để đưa ra các biện pháp hiệu quả nhất nhằm nâng cao hơn nữa công tác giáo dục của huyện nhà.

2. Bài tham luận về công tác duy trì sĩ số học sinh số 2

Kính thưa quý vị đại biểu!

Kính thưa hội nghị!

Thay mặt đơn vị trường THCS Liêng Trang tôi xin được trình bày bản báo cáo tham luận về công tác duy trì sĩ số học sinh như sau:

1. Về đặc điểm tình hình:

– Đơn vị trường THCS Liêng Trang được thành lập vào năm 2010 với tổng số 18 lớp 595 học sinh, đến nay trường đã phát triển lên đến 23 lớp, 670 học sinh.

– Trường học được nằm trên địa bàn xã khó khăn, là một địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nên phụ huynh học sinh phần lớn nằm trong diện lao động nghèo, hoàn cảnh khó khăn. Vì thế việc đến trường của các em cũng hay gián đoạn do phải phụ giúp công việc gia đình, thêm vào đó kinh tế thiếu thốn không có điều kiện cho con em theo học, thời gian đầu tư cho học tập của các em hạn chế dẫn đến kết quả học tập yếu kém nên dễ bị chán nản, vắng học ngày càng nhiều rồi bỏ học giữa chừng.

So sánh chất lượng, duy trì sĩ số, lên lớp thẳng, số liệu học sinh bỏ học…của năm học 2013 – 2014 và năm học 2014 – 2015.

* So sánh chất lượng:

Năm học 2013 – 2014

Giỏi

Tỷ lệ %

Khá

Tỷ lệ

TB

Tỷ lệ

Yếu

Tỷ lệ

Kém

Tỷ lệ

21

3,1

240

35,8

329

49,1

77

11,5

3

0,4

Tỷ lệ lên lớp thẳng: 88%

Năm học 2014 – 2015

Giỏi

Tỷ lệ %

Khá

Tỷ lệ

TB

Tỷ lệ

Yếu

Tỷ lệ

Kém

Tỷ lệ

24

3,8

205

32,8

336

53,8

54

8,6

6

1,0

Tỷ lệ lên lớp thẳng: 90,4 %

* So sánh tỷ lệ bỏ học và duy trì sĩ số:

2013 – 2014

2014 – 2015

HS bỏ học

Tỷ lệ

HS bỏ học

Tỷ lệ

76

10,2

15

2,3%

Tỷ lệ duy trì sĩ số qua các năm

2013 – 2014

2014 – 2015

TSHS

đầu năm

TS HS cuối năm

Tỷ lệ duy trì sĩ số

TSHS

đầu năm

TS HS cuối năm

Tỷ lệ duy trì sĩ số

742

666

89,7%

640

625

97,7%

Còn một nguyên nhân khác đó là tình trạng phụ huynh không cho con đi học, bắt con ở nhà đi làm vì anh chị học ra mà không có việc làm.

Tỷ lệ học sinh vắng học cao vào ngày cuối tuần.

2. Nguyên nhân:

– Đa số học sinh bỏ học là con em trong gia đình nghèo, thiếu sự quan tâm, học sinh bỏ học đi làm nương rẫy và đi làm xa kiếm tiền về cho gia đình.

– Sự phối hợp giữa gia đình học sinh với nhà trường chưa cao, nhiều phụ huynh còn có tư tưởng trông chờ, phó mặc con em mình cho nhà trường, lên nương, ở lán lâu ngày không về.

– Một số học sinh học lực yếu kém thường bi quan trước lực học của mình, thiếu niềm tin vào khả năng học tập, không theo kịp chương trình, thua kiến thức bạn bè dẫn đến tâm lý chán nản, mặc cảm muốn nghỉ học.

– Một số học sinh không đủ quần áo mặc nên nghỉ ở nhà.

Kính thưa hội nghị!

Vấn đề duy trì sĩ số huy động học sinh ra lớp là vấn đề hết sức quan trọng trong giáo dục đào tạo, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục hiện nay.

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng và nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về hỗ trợ chế độ chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên đối tượng đủ điều kiện được hưởng không nhiều. Sự chênh lệch và phân hóa đối tượng được hưởng đã dẫn đến những nhận thức không đúng trong người dân, dẫn đến nảy sinh những quan điểm trái ngược nhau trong công tác cho con em đi học và không cho đi học.

Để công tác duy trì sĩ số đạt hiệu quả, tôi xin đề xuất các giải pháp như sau:

1. Về phía nhà trường:

– Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức về quan điểm đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước cho nhân dân hiểu thông qua các cuộc họp phụ huynh học sinh. Duy trì tốt nề nếp sinh hoạt giữa ban đại diện cha mẹ học sinh các lớp và ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường.

– Phối hợp chặt chẽ và thường xuyên với các tổ chức mặt trận, đoàn thể ở thôn buôn để tuyên tuyền giáo dục và vận động, động viên học sinh đi học chuyên cần.

– Quan tâm giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khó khăn để hỗ trợ về vật chất và tinh thần. Thành lập ban vận động trong nhà trường để thường trực, nếu có học sinh nghỉ học thì kịp thời vận động trở lại lớp.

– Tăng cường chỉ đạo công tác giảng dạy sát với nội dung chương trình, đặc biệt là chương trình giảng dạy vùng miền để phù hợp với đối tượng học sinh. Yêu cầu Giáo viên khi lên lớp quan tâm tới đối tượng học sinh có học lực yếu kém, hỏi những câu hỏi phù hợp, cho điểm, khuyến khích, động viên tinh thần học tập để các em cố gắng vươn lên trong học tập.

– Giao cho Giáo viên chủ nhiệm và Tổng phụ trách Đội theo dõi kiểm diện học sinh hàng ngày để kịp thời nắm bắt tình hình đi học chuyên cần của học sinh. Tăng cường tổ chức các giờ học sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt vui tươi lành mạnh bổ ích, để thu hút học sinh đến trường.

2. Đối với các cấp chính quyền địa phương:

– Tăng cường công tác chỉ đạo vai trò của các tổ chức mặt trận đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động và chăm lo cho sự nghiệp giáo dục địa phương.

– Đẩy mạnh phát triển hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng, tổ chức các hoạt động giáo dục dưới mọi hình thức để huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi được học tập.

– Huy động các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, các tổ chức hội đóng góp vật chất hỗ trợ kịp thời cho con em địa phương còn gặp khó khăn.

3. Những bài học kinh nghiệm:

1. Huy động học sinh ra lớp là hoạt động mang tính xã hội hóa rõ rệt, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt, sự phối hợp hài hòa giữa các cấp, các ngành, mà chủ động là phía nhà trường. Trong mỗi thời điểm, mỗi điều kiện, mỗi hoàn cảnh khác nhau, nhà trường phải luôn chủ động trong công tác vận động học sinh ra lớp, kết hợp với các biện pháp duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần. Hai mặt công tác trên phải luôn gắn bó và được tiến hành đồng thời. Có thế mới đủ điều kiện để đảm bảo nâng cao chất lượng học cũng như việc duy trì sĩ số.

2. Muốn khắc phục tình trạng học sinh bỏ học phải theo dõi và nắm vững sĩ số học sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Phải tìm hiểu nguyên nhân đối tượng bỏ học, học sinh hay nghỉ học, tìm biện pháp khắc phục nguyên nhân đó. Phải xử lý từng trường hợp cụ thể, không hô hào, không chán nản.

3. Người Giáo viên phải có tình yêu thương và tận tình giúp đỡ các em. Luôn phải kiên trì, tận tâm tận lực và phải tâm niệm rằng: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Một điều quan trọng nhất là sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô giáo. Những bài giảng của thầy cô cần phải tạo cho các eem tâm lí muốn học và thích đến lớp hơn. Các thầy cô giáo không những chỉ dạy kiến thức mà còn phải dỗ học sinh học bài . Vì vậy, với giáo viên không chỉ cần có chuyên môn tốt mà còn phải rất kiên trì, hiểu tâm lí học sinh.

4. Khi tổ chức đi vận động học sinh ra lớp phải đi tập thể có đông đủ thành phần ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các đoàn thể đến gặp trực tiếp cha mẹ học sinh như một chiến dịch đi vận động học sinh ra lớp.

5. Trong công tác tham mưu, phối hợp với cấp ủy chính quyền địa phương phải kịp thời, nhanh chóng và quyết liệt, quyết tâm thực hiện, không đùn đẩy trách nhiệm.

6. Thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể, các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cho học sinh. Qua các hoạt động này cho thấy các em đến trường không những đến để học mà đến trường là vừa được học, vừa được chơi. nhằm làm tốt công tác huy động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số đảm bảo chuyên cần để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.

Trên đây là bài tham luận về công tác duy trì sỉ số của đơn vị trường THCS Liêng Trang. Xin chúc quý vị đại biểu sức khỏe hạnh phúc. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cám ơn!

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của Thiquocgia.vn.